Chủ nhật, 25/09/2022 - 06:35
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Tuyên Quang gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 03 ý kiến của cử tri tỉnh Tuyên Quang do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực đất đai.

Một là, đối với luật Đất đai: Đề nghị sửa đổi khoản 2, khoản 3 Điều 105 Luật Đất đai 2013 theo mô hình của Luật Đất đai năm 2003, trong đó Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư (kể cả cấp lần 2). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Sở Tài nguyên và Môi trường) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức. Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 thì thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được giao cho hai cơ quan thực hiện đó là Ủy ban nhân dân cấp huyện (cấp lần đầu) và cơ quan Tài nguyên môi trường (cấp lần thứ hai trở đi). Việc giao thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cùng một thửa đất cho 02 cơ quan khác nhau là không hợp lý, không cần thiết, không gắn trách nhiệm quản lý việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất với chính quyền cơ sở, gây khó khăn cho công tác cập nhật, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.

Đề nghị nghiên cứu chỉnh sửa Điều 179, Điều 190 Luật Đất đai năm 2013. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 179 và Điều 190 Luật Đất đai năm 2013 thì hộ gia đình, cá nhân chỉ được chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng 01 xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác. Quy định này gây khó khăn cho triển khai dự án đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp với quy mô lớn, kỹ thuật cao khi hiện nay đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân với diện tích nhỏ, phân bổ không đều.

Đề nghị tăng hạn mức đối với đất nông nghiệp vì hiện nay hạn mức đất nông nghiệp quá thấp nên manh mún, không thể phát triển hàng hóa quy mô lớn nên cần phải gia hạn hạn mức đất nông nghiệp. Theo khoản 1 Điều 130 Luật Đất đai năm 2013 thì hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được quy định cụ thể như sau: “Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đối với mỗi loại đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 129 của Luật này”. Quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp nêu trên còn thấp, khó sản xuất theo quy mô lớn và đầu tư công nghệ để bảo đảm tăng năng suất lao động.

Đề nghị bổ sung hành vi vi phạm “Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước” vào Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất theo điểm g khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai. Điểm g khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 quy định về thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai trong trường hợp: “Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành”. Tuy nhiên, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai không quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước” của người sử dụng đất nên không có căn cứ để thu hồi đất theo quy đinh của điểm g khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013.

Đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệm đền bù thiệt hại của Nhà nước trong trường hợp chậm bàn giao đất cho người được giao đất, cho thuê đất mà do lỗi của cơ quan nhà nước. Theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 68 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì người được giao đất, cho thuê đất có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất, nộp tiền thuê đất đối với trường hợp cho thuê đất trước khi được cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao đất trên thực địa. Trong trường hợp chậm nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất sẽ bị phạt chậm nộp theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất và Điều 26 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có quy định để xử lý đối với trường hợp người được giao đất, cho thuê đất đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, nhưng chậm được cơ quan nhà nước bàn giao đất để sử dụng, dẫn đến thiệt hại cho người được giao đất, cho thuê đất.

Về đề nghị sửa đổi khoản 2, khoản 3 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013

Trước đây Luật Đất đai năm 2003 (tại khoản 2 Điều 52) quy định thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân là Ủy ban nhân dân cấp huyện, bao gồm cả trường hợp cấp giấy chứng nhận lần đầu và khi hộ gia đình, cá nhân thực hiện quyền của mình. Do trong giai đoạn này, cơ quan dịch vụ công phục vụ cho công tác cấp giấy chứng nhận là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất được thành lập theo hai cấp, trong đó Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường là đơn vị chuẩn bị hồ sơ để Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ký cấp Giấy chứng nhận. Mặt khác, trong giai đoạn này, cả nước chưa căn bản hoàn thành cấp giấy chứng nhận lần đầu đối với các loại đất, cần tập trung cho công tác cấp giấy chứng nhận lần đầu và để thống nhất một đầu mối ký cấp giấy chứng nhận thì việc quy định thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân là Ủy ban nhân dân cấp huyện là phù hợp.

Đến nay, trong bối cảnh cả nước đã căn bản hoàn thành cấp giấy chứng nhận lần đầu đối với các loại đất, việc cấp giấy chứng nhận cho các đối tượng nói chung và hộ gia đình, cá nhân nói riêng chủ yếu là khi người sử dụng đất thực hiện quyền của mình. Các trường hợp này đã được cấp giấy chứng nhận lần  đầu nên đã một lần được được Nhà nước xác lập quyền ban đầu thông qua việc cấp giấy chứng nhận. Do đó, khi thực hiện quyền của mình lại yêu cầu một cơ quan hành chính nhà nước (Ủy ban nhân dân cấp huyện) xác lập quyền sử dụng đất lần thứ hai thông qua việc cấp giấy chứng nhận, làm tăng gánh nặng cho bộ máy hành chính ở địa phương là không cần thiết.

Mặt khác, đối với nơi đã thành lập Văn phòng đăng ký đất đai thì hệ thống Văn phòng đăng ký đất đai được thành lập và hoạt động theo mô hình một cấp. Mô hình này có ưu điểm là hoạt động đăng ký đất đai có sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất; việc thực hiện nhiệm vụ đã thể hiện rõ hơn tính chuyên nghiệp trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận; quy trình giải quyết công việc đã được thực hiện thống nhất, nhiều nơi đã được thực hiện gắn với hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai đã xây dựng; thời gian thực hiện thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận đã giảm từ 05 - 25 ngày so với trước đây, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ gia đình, cá nhân khi tham gia giao dịch về đất đai, tài sản gắn liền với đất. Các Văn phòng đăng ký đất đai đã có điều kiện thuận lợi hơn trong việc chủ động xây dựng, vận hành, cập nhật, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Về đề nghị nghiên cứu, chỉnh sửa Điều 179, Điều 190 Luật Đất đai năm 2013

Ý kiến phản ánh của cử tri là phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2013 hiện hành, theo đó tại Điều 179 của Luật Đất đai năm 2013 quy định về quyền và nghĩa vụ: “Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác”. Tuy nhiên, để phù hợp với yêu cầu khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp trên quy mô lớn trong giai đoạn hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận kiến nghị của cử tri để xem xét báo cáo cấp có thẩm quyền trong quá trình tổng kết và sửa đổi Luật Đất đai năm 2013.

Về kiến nghị tăng hạn mức đất nông nghiêp

Vấn đề kiến nghị của cư tri, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có báo cáo Bộ Chính trị trong quá trình tổng kết Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trên cơ sở đó Bộ Chính trị đã có kết luận về nghiên cứu chủ trương thực hiện mở rộng hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và mở rộng đối tượng được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa để thúc đẩy tập trung, tích tụ đất đai, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp.

Để thúc đẩy việc tập trung đất nông nghiệp, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu xây dựng, trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định về khuyến khích tập trung, tích tụ đất đai cho sản xuất nông nghiệp (Tờ trình số 101/TTr-BTNMT ngày 29/12/2019) và hiện dự thảo Nghị định đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các Thành viên Chính phủ để hoàn thiện trình Chính phủ xem xét ký ban hành. Nội dung dự thảo Nghị định này đã đề xuất nhiều giải pháp để thúc đẩy việc tập trung đất nông nghiệp thông qua hình thức thuê đất, liên doanh, liên kết với người sử dụng đất để nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn nhưng vẫn đảm bảo được các quyền và lợi ích của nông dân.

Về kiến nghị bổ sung hành vi vi phạm “người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước”

Tại Điều 15a của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (được bổ sung theo Điều 15a theo quy định tại Khoản 13 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017) đã quy định “Việc thu hồi đất đối với trường hợp người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước quy định tại điểm g khoản 1 Điều 64 của Luật đất đai được thực hiện trong trường hợp người sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định của pháp luật mà đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng không chấp hành.”

Theo quy định tại Điều 3 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì “Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần”. Do đó, đối với hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã bị xử lý theo quy định của pháp luật về tài chính nên Nghị định số 91/2019/NĐ-CP không quy định xử phạt đối với hành vi này.

Về đề nghị bổ sung trách nhiệm đền bù thiệt hại của Nhà nước trong trường hợp chậm bàn giao đất cho người được giao đất, cho thuê đất mà do lỗi của cơ quan nhà nước

Ngày 20/06/2017, Quốc hội ban hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Luật này quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; thiệt hại được bồi thường; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường; thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường; phục hồi danh dự; kinh phí bồi thường; trách nhiệm hoàn trả; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong công tác bồi thường nhà nước. Do đó, đối với vấn đề mà cử tri nêu sẽ được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

Hai là, đề nghị chỉnh sửa khoản 4 Điều 18 và các quy định liên quan tại Nghị định số 44/2014/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) theo hướng giao cho một cơ quan xây dựng hệ số điều chỉnh giá đất. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 18 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai) thì Sở Tài chính chủ trì xây dựng hệ số điều chỉnh giá đất đối với “các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 4 Điều 114, khoản 2 Điều 172 và khoản 3 Điều 189 của Luật đất đai, xác định giá đất để làm giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà thửa đất hoặc khu đất của dự án có giá trị (tính theo giá đất trong bảng giá đất) dưới 30 tỷ đồng đối với các thành phố trực thuộc trung ương; dưới 10 tỷ đồng đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; dưới 20 tỷ đồng đối với các tỉnh còn lại; xác định giá đất để làm căn cứ tính tiền thuê đất khi Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm mà phải xác định lại đơn giá thuê đất để điều chỉnh cho chu kỳ tiếp theo; xác định giá đất để làm cơ sở xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm”, còn Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng hệ số điều chỉnh giá đất đối với “trường hợp quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 114 của Luật đất đai đối với dự án có các thửa đất liền kề nhau, có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi và thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự nhau hoặc trường hợp tại khu vực thu hồi đất không bảo đảm yêu cầu về thông tin để áp dụng các phương pháp định giá đất quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 4 của Nghị định này để xác định giá đất cụ thể của từng thửa đất”.  Việc quy định 02 cơ quan khác nhau chủ trì xây dựng, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định hệ số điều chỉnh giá đất nêu trên là không cần thiết, có thể sẽ dẫn đến tình trạng không thống nhất trong việc xây dựng, xác định hệ số điều chỉnh giá đất

Tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 18 của Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về giá đất (được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017) quy định:

Giá đất cụ thể được xác định bằng phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất quy định được áp dụng đối với các trường hợp sau đây:

Các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 4 Điều 114, khoản 2 Điều 172 và khoản 3 Điều 189 của Luật Đất đai, xác định giá đất để làm giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà thửa đất hoặc khu đất của dự án có giá trị (tính theo giá đất trong bảng giá đất) dưới 30 tỷ đồng đối với các thành phố trực thuộc trung ương; dưới 10 tỷ đồng đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; dưới 20 tỷ đồng đối với các tỉnh còn lại; xác định giá đất để làm căn cứ tính tiền thuê đất khi Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm mà phải xác định lại đơn giá thuê đất để điều chỉnh cho chu kỳ tiếp theo; xác định giá đất để làm cơ sở xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm.

Trường hợp quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 114 của Luật Đất đai đối với dự án có các thửa đất liền kề nhau, có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi và thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự nhau hoặc trường hợp tại khu vực thu hồi đất không bảo đảm yêu cầu về thông tin để áp dụng các phương pháp định giá đất quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 4 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP để xác định giá đất cụ thể của từng thửa đất.

Hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hệ số điều chỉnh giá đất để áp dụng cho các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 4 Điều 114, khoản 2 Điều 172 và khoản 3 Điều 189 của Luật Đất đai, xác định giá đất để làm giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà thửa đất hoặc khu đất của dự án có giá trị (tính theo giá đất trong bảng giá đất) dưới 30 tỷ đồng đối với các thành phố trực thuộc trung ương; dưới 10 tỷ đồng đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; dưới 20 tỷ đồng đối với các tỉnh còn lại; xác định giá đất để làm căn cứ tính tiền thuê đất khi Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm mà phải xác định lại đơn giá thuê đất để điều chỉnh cho chu kỳ tiếp theo; xác định giá đất để làm cơ sở xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất khi Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm.

Đối với trường hợp quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 114 của Luật Đất đai đối với dự án có các thửa đất liền kề nhau, có cùng mục đích sử dụng, khả năng sinh lợi và thu nhập từ việc sử dụng đất tương tự nhau hoặc trường hợp tại khu vực thu hồi đất không bảo đảm yêu cầu về thông tin để áp dụng các phương pháp định giá đất quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 4 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP để xác định giá đất cụ thể của từng thửa đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hệ số điều chỉnh giá đất đối với từng loại đất theo dự án hoặc theo khu vực để xác định giá đất tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường và các sở, ngành có liên quan xây dựng, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định hệ số điều chỉnh giá đất quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;

Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và các sở, ngành có liên quan xây dựng, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hệ số điều chỉnh giá đất quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.”

Như vậy có thể thấy phạm vi về thẩm quyền xác định hệ số điều chỉnh giá đất của Sở Tài chính và Sở Tài nguyên và Môi trường là khác nhau nên không có tình trạng không thống nhất trong việc xây dựng, xác định hệ số điều chỉnh giá đất. Quy định như trên là phù hợp với tình hình hiện nay khi bên cạnh việc xác định giá đất cụ thể để thu tiền sử dụng đất khi giao đất, cho thuê đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (thuộc chức năng của ngành tài nguyên và môi trường) còn có việc xác định giá đất cụ thể để tính thu nghĩa vụ tài chính đối với các trường hợp khác (thuộc chức năng của nành tài chính, thuế) nên cần có sự phân định thẩm quyền tổ chức thực hiện để đảm bảo phù hợp về năng lực tổ chức thực hiện của từng cơ quan.

Ba là, đề nghị Bộ phối hợp với Bộ Tư pháp rà soát, xử lý Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Điều 5 và điểm h khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP ngày 04/4/2015 của liên Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tư pháp quy định việc tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất, cụ thể:

“1. Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp đặc biệt được thành lập để thực hiện bán đấu giá quyền sử dụng đất đối với các trường hợp sau đây:  a) Thực hiện giao đất, cho thuê đất đối với đất để thực hiện dự án có giá trị lớn khi giá trị quyền sử dụng đất của toàn bộ thửa đất tính theo giá đất trong bảng giá đất từ 1.000 tỷ đồng trở lên đối với các thành phố trực thuộc Trung ương; từ 300 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; từ 500 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh còn lại; b) Thực hiện giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án đầu tư hoặc giao đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân tại xã thuộc địa bàn miền núi cách trung tâm tỉnh lỵ từ 60 km trở lên mà tại địa bàn huyện nơi giao đất, cho thuê đất không có tổ chức có chức năng bán đấu giá theo quy định của pháp luật”. 

Điểm h khoản 2 Điều 6 (Lập phương án đấu giá quyền sử dụng đất) quy định:

 “2. Phương án đấu giá quyền sử dụng đất bao gồm những nội dung chính sau đây: h) Phương thức lựa chọn đơn vị thực hiện cuộc bán đấu giá (đấu thầu rộng rãi hoặc giao đơn vị cụ thể thực hiện) hoặc đề xuất thành lập Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất trong trường hợp đặc biệt (đối với trường hợp được thành lập Hội đồng đấu giá đặc biệt theo quy định)”.

Điều 5, điểm h khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP nêu trên không phù hợp với Luật đấu giá tài sản năm 2016, cụ thể:

Điều 5 quy định 02 trường hợp thành lập Hội đồng đấu giá quyền sử dụng đất, tuy nhiên 02 trường hợp này không thuộc trường hợp được thành lập Hội đồng đấu giá tài sản theo quy định tại Điều 60 Luật đấu giá tài sản năm 2016: “1. Người có tài sản đấu giá mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá quyết định thành lập Hội đồng đấu giá tài sản để đấu giá tài sản trong các trường hợp sau đây: a) Luật quy định việc đấu giá tài sản do Hội đồng đấu giá tài sản thực hiện; b) Không lựa chọn được tổ chức đấu giá tài sản theo quy định tại Điều 56 của Luật này”.

 Như vậy, Điều 5 Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP không phù hợp với Điều 60 Luật đấu giá tài sản, hơn nữa, việc quy định thành lập Hội đồng đấu giá tài sản chỉ bao gồm cán bộ nhà nước (thành phần Hội đồng đấu giá là đại diện Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất và đại diện cơ quan nhà nước có liên quan) mà không lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản chuyên nghiệp, điều này không đảm bảo tính khách quan, minh bạch, khó kiểm soát trong thực tế, dễ phát sinh tình trạng đơn vị có tài sản cố tình đưa ra những đề nghị phương án đấu giá trái pháp luật để các tổ chức hành nghề đấu giá không thể hợp đồng đấu giá, từ đó cơ quan có tài sản thành lập Hội đồng đấu giá riêng để thực hiện đấu giá, không loại trừ vì lợi ích nhóm trong trường hợp này.

Điểm h khoản 2 Điều 6 quy định “giao đơn vị cụ thể thực hiện đấu giá tài sản” không phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (Điều 56 quy định về việc thông báo công khai về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản để các tổ chức đấu giá tài sản nộp hồ sơ tham gia đấu giá, sau đó người có tài sản đấu giá căn cứ hồ sơ tham gia đấu giá và tiêu chí theo quy định để lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản); đồng thời, không đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động đấu giá tài sản, việc lựa chọn đơn vị thực hiện cuộc đấu giá tài sản mang tính ý chí chủ quan của đơn vị tổ chức thực hiện việc đấu giá, dễ dẫn đến việc lợi dụng quy định để thực hiện hành vi tham nhũng, nhũng nhiễu.

Kiến nghị của cư tri phản ánh là đúng với tình hình thực tế hiện nay. Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tổng hợp phản ánh từ các địa phương để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật đất đai trong thời gian tới.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan