Thứ 7, 28/05/2022 - 07:55
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Thái Nguyên gửi đến trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được 04 ý kiến của cử tri tỉnh Thái Nguyên do Ban Dân nguyện - Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển đến liên quan đến lĩnh vực đất đai.

Một là, đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 về trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo hướng như sau: “Căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dụng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt theo quy định của pháp luật, cơ quan tài nguyên và môi trường theo chỉ đạo Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cùng cấp thực hiện hoặc trực tiếp thực hiện việc chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi theo quy định sau đây: a) Chỉnh lý bản đồ địa chính cho phù hợp hiện trạng và làm trích lục bản đồ địa chính đối với những nơi đã có bản đồ địa chính chính quy hoặc trích đo địa chính đối với nơi chưa có bản đồ địa chính chính quy; b) Hoàn chỉnh và trích sao hồ sơ địa chính (sổ địa chính) để gửi cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; c) Lập danh sách các thửa đất bị thu hồi với các nội dung: số hiệu tờ bản đồ, số hiệu thửa đất, tên người sử dụng đất, diện tích của phần thửa đất có cùng mục đích sử dụng, mục đích sử dụng đất.

Đối với khu đất phải trích đo địa chính thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất bị thu hồi thông báo bằng văn bản cho người sử dụng đất thuộc khu vực phải thu hồi đất về việc đo địa chính. Người sử dụng đất có trách nhiệm chấp hành, phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đo đạc xác định hiện trạng thửa đất.

Kinh phí chi cho việc chỉnh lý bản đồ địa chính, trích lục bản đồ địa chính, trích đo địa chính, trích sao hồ sơ địa chính do chủ đầu tư dự án trả đối với trường hợp thu hồi đất theo dự án và được tính vào chi phí đầu tư thực hiện dự án đó.”

Đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 114 Luật Đất đai năm 2013 về Bảng giá đất: khoản 1 Điều 114 Luật Đất đai năm 2013 quy định “giá đất được xây dựng định kỳ 5 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 của năm đầu kỳ” là quá dài, không phù hợp với thực tiễn thực hiện các giao dịch về đất đai để tính thuế sử dụng đất, tính phí và lệ phí trong quản lý sử dụng đất. Đề nghị sửa đổi theo hướng quy định điều chỉnh bảng giá đất định kỳ 01 năm một lần hoặc đề nghị điều chỉnh hệ số K cho sát giá đất thị trường

Về việc đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 về trình tự, thủ tục thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận, xem xét trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013.

Về việc đề nghị sửa đổi, bổ sung Điều 114 Luật Đất đai năm 2013 về Bảng giá đất

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng, ban hành và công bố công khai vào ngày 01/01 hàng năm. Tuy nhiên, do bảng giá đất phải đảm bảo hài hòa nhiều mục đích, đã dẫn đến thực tế là giá đất trong bảng giá đất luôn thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường (phổ biến bằng 30-70% giá đất thị trường), gây thất thu cho ngân sách nhà nước khi thực hiện giao đất, cho thuê đất và gây khiếu kiện khi Nhà nước thu hồi đất. Đồng thời, việc ban hành bảng giá đất hàng năm gây khó khăn trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng do người có đất thu hồi có tâm lý chờ đợi giá đất mới của năm sau cao hơn năm trước và tốn kém về kinh phí, nhân lực, nhất là đối với nơi, loại đất không có giao dịch về quyền sử dụng đất hoặc không có biến động về giá đất thị trường. Để khắc phục những tồn tại, bất cập nêu trên, Luật Đất đai năm 2013 đã quy định “Bảng giá đất được xây dựng định kỳ 05 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 của năm đầu kỳ. Trong thời gian thực hiện bảng giá đất, khi Chính phủ điều chỉnh khung giá đất hoặc giá đất phổ biến trên thị trường có biến động thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh bảng giá đất cho phù hợp...” Đồng thời, việc xây dựng, điều chỉnh Bảng giá đất phải bảo đảm phù hợp với giá đất phổ biến trên thị trường. Theo quy định tại khoản 2 Điều 114 Luật Đất đai năm 2003 thì Bảng giá đất được sử dụng để tính thuế sử dụng đất, tính phí và lệ phí trong quản lý sử dụng đất. Như vậy, pháp luật về đất đai năm 2013 đã quy định đầy đủ nguyên tắc định giá đất, việc xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất, thẩm quyền điều chỉnh bảng giá đất, xây dựng hệ số K hàng năm.

Hai là, việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai quy định: “Đất trồng cây hàng năm không sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục”nhưng Luật không quy định đối với đất nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp khác và quy định chưa rõ về bồi thường khi thu hồi. Mặt khác, trên thực tế rất khó xác định thời gian không sử dụng đất liên tục và thu hồi đối với các loại đất trên. Đề nghị sửa đổi, bổ sung và có hướng dẫn cụ thể.

Quy định tại điểm h khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 được kế thừa từ Luật Đất đai năm 2003. Trong quá trình tổ chức thi hành Luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng nhận được phản ánh của địa phương về vấn đề này. Tuy nhiên, việc xác định hành vi vi phạm của người được giao đất, cho thuê đất vào mục đích nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác trong 12 tháng không sử dụng liên tục là rất khó xác định chính xác để xử lý.

Bộ Tài nguyên và Môi trường xin ghi nhận và trân trọng cảm ơn kiến nghị của cử tri để tiếp tục nghiên cứu trong quá trình hoàn thiện pháp luật đất đai.

Ba là, về xác định hành vi vi phạm pháp luật đất đai: Tại khoản 3 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP chỉ quy định vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01/7/2014; Nghị định không quy định cụ thể việc xác định hành vi vi phạm pháp luật đất đai (lấn, chiếm đất) để không được cấp Giấy chứng nhận như đã quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ trước đây. Do đó, những hành vi tự tạo lập, khai hoang, thấy đất trống đến dựng làm nhà ở trước ngày 15/10/1993 xảy ra khá nhiều nhưng không có quy định cụ thể. Đề nghị hướng dẫn cụ thể, đối với những trường hợp nêu trên thì có xem là hành vi lấn chiếm đất hoặc tự chuyển mục đích sử dụng đất mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép không? và khi cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp này áp dụng theo khoản 1 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (không nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức đất ở) hay khoản 3 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và phải nộp tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ (nộp 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức đất ở theo giá đất quy định tại Bảng giá đất)

Việc xác định người sử dụng đất có hay không có hành vi vi phạm pháp luật đất đai cần căn cứ vào thời điểm xảy ra hành vi, quy định pháp luật tại thời điểm xảy ra hành vi và như các giấy tờ, sổ sách về quản lý đất đai do cơ quan Nhà nước lập trước thời điểm xảy ra hành vi để xác định cụ thể.

Về việc xác định hành vi lấn, chiếm đất đai đối với các trường hợp người dân đã sử dụng đất trước ngày 15/10/1993: Pháp luật đất đai qua các thời kỳ đều có quy định nghiêm cấm việc lấn, chiếm đất đai như:

Tại Chỉ thị 213/CT-TTg ngày 24/9/1974 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định “Đối với những ruộng đất đã bị lấn chiếm không hợp pháp, những ruộng tạm mượn, tạm cấp làm cơ quan, kho tàng, nhà ở khi sơ tán trong chiến tranh phá hoại, nay trả lại cho sản xuất nông nghiệp” hoặc “đối với những đất của các nông trường, các hợp tác xã nông nghiệp, các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước bị chiếm dụng trái phép thì cơ quan làm chủ ruộng đất phải thu hồi lại, phải quản lý, sử dụng đúng chế độ và chính sách của Nhà nước”;

Đến Thông tư số 55/ĐKTK ngày 5/11/1981 của Tổng cục Quản lý ruộng đất hướng dẫn cách giải quyết các trường hợp sử dụng ruộng đất không hợp pháp, không hợp lý tiếp tục nhắc lại quy định tại Chỉ thị số 213-TTg ngày 24/9/1974 và có quy định hoặc “Tất cả ruộng đất hợp tác xã bị các thành phần tự do lấn chiếm để làm nhà hoặc sản xuất riêng đều phải kiên quyết thu hồi về cho Hợp tác xã sử dụng. Trường hợp đã làm nhà rồi cũng phải dỡ đi, nếu có nhiều khó khăn mà không dỡ được thì trừ vào đất 5% của người lấn chiếm” hoặc “Đối với ruộng đất của các nông trường, lâm trường, trạm trại bị chiếm dụng trái phép thì cơ quan làm chủ ruộng đất phải thu hồi lại, phải quản lý và sử dụng theo đúng chế độ, chính sách Nhà nước”.

Tại Khoản 1 Điều 48 của Luật Đất đai năm 1987 có quy định “Người sử dụng đất còn có những nghĩa vụ sau đây: 1- Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới và các điều kiện khác đã được quy định khi giao đất”; tại Điều 6 của Luật Đất đai năm 1993 quy định “Nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích được giao, huỷ hoại đất”.

Căn cứ vào các hành vi vi phạm của người sử dụng đất (nếu có), quá trình sử dụng đất và các quy định đã nêu để xem xét thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đối với trường hợp người sử dụng đất không vi phạm pháp luật về đất đai mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thì việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; đối với trường hợp người sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và việc sử dụng đất do lấn, chiếm đất đai thì xem xét giải quyết việc cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Khoản 3 Điều 101 của Luật Đất đai, Điều 22 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

Đề nghị cử tri gửi ý kiến cụ thể đối với từng trường hợp tới cơ quan quản lý đất đai ở địa phương, trên cơ sở hồ sơ, giấy tờ, sổ sách lưu trữ tại địa phương để xác định cụ thể hành vi lấn, chiếm đất đai của người sử dụng đất.

Bốn là, đề nghị có hướng dẫn chi tiết, cụ thể các tiêu chí xác định hộ, gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp tại Điều 3 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017

Tiêu chí xác định hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đã được quy định tại khoản 30 Điều 3 Luật Đất đai quy định giải thích thuật ngữ hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định các căn cứ để xác định cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và các căn cứ để xác định hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Cụ thể:

Các căn cứ để xác định cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, gồm: + Đang sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; do nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; đang sử dụng đất nông nghiệp mà chưa được Nhà nước công nhận; + Không thuộc đối tượng được hưởng lương thường xuyên; đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp xã hội; + Có nguồn thu nhập thường xuyên từ sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất đang sử dụng, kể cả trường hợp không có thu nhập thường xuyên vì lý do thiên tai, thảm hoạ môi trường, hoả hoạn, dịch bệnh; + Trường hợp giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất hoặc đăng ký nhận chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa của cá nhân thì chỉ căn cứ vào tiêu chí “không thuộc đối tượng được hưởng lương thường xuyên; đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp xã hội”.

Các căn cứ để xác định hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, gồm: + Đang sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; do nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; đang sử dụng đất nông nghiệp mà chưa được Nhà nước công nhận; + Có ít nhất một thành viên của hộ không thuộc đối tượng được hưởng lương thường xuyên; đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp xã hội; + Có nguồn thu nhập thường xuyên từ sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất đang sử dụng, kể cả trường hợp không có thu nhập thường xuyên vì lý do thiên tai, thảm hoạ môi trường, hoả hoạn, dịch bệnh; + Trường hợp giao đất nông nghiệp không thu tiền sử dụng đất  hoặc đăng ký nhận chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa của hộ gia đình thì chỉ căn cứ vào tiêu chí “không thuộc đối tượng được hưởng lương thường xuyên; đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp xã hội”.

Như vậy, Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định cụ thể về các tiêu chí xác định hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan