Thứ 5, 03/12/2020 - 18:04
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thanh Hồng (Đoàn ĐBQH tỉnh Bình Dương)

Tại Phiên chất vấn Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, do thời gian không cho phép nên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa có điều kiện giải trình, làm rõ thêm một số nội dung Đại biểu nêu liên quan đến tình trạng ô nhiễm môi trường không khí tại các thành phố lớn; quản lý chất thải rắn sinh hoạt, đặc biệt là tại thành phố Hà Nội.

Ô nhiễm môi trường không khí tại các thành phố lớn

Thực trạng chất lượng không khí tại các thành phố lớn

Từ đầu năm 2020 đến nay, môi trường không khí khu vực miền Bắc, trong đó có thành phố Hà Nội được cải thiện so với cùng thời điểm quan trắc năm 2019. Vấn đề ô nhiễm tiếng ồn và ô nhiễm bụi vẫn xuất hiện nhưng có xu hướng giảm rõ rệt[1]. Trong tháng 7 năm 2020 có một số ngày chất lượng không khí của Hà Nội có diễn biến xấu đi, do những biến động bất thường của yếu tố thời tiết, khí hậu. Một số khu vực trong nội thành Hà Nội, chất lượng không khí đã ở mức kém và xấu, giá trị PM2.5 đã vượt  QCVN 05:2013/BTNMT, có thể ảnh hưởng đáng kể tới sức khỏe của con người, đặc biệt là nhóm người nhạy cảm. Tại khu vực miền Nam, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh, môi trường không khí bị tác động do bụi lơ lửng tổng số và tiếng ồn, gây ra bởi hoạt động sản xuất và giao thông trong vùng, một số điểm bị ô nhiễm cục bộ[2]

Theo kết quả từ các trạm quan trắc tự động liên tục, chất lượng không khí tại một số thành phố của Việt Nam trong thời gian vừa qua cho thấy, về cơ bản chất lượng không khí duy trì ở trạng thái khá ổn định, phần lớn thời gian ở mức tốt và trung bình. Mặc dù thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có giá trị trung bình 24 giờ của thông số PM 2.5 cao hơn các thành phố khác, tuy nhiên, vẫn nằm dưới ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN.

Có thể nhận định vấn đề ô nhiễm không khí tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và các đô thị khác trong toàn quốc chủ yếu tập trung vào ô nhiễm bụi, đặc biệt là bụi mịn PM2.5, PM10 và mang tính cục bộ tại một số khu vực, một số thời điểm nhất định; các thông số khác vẫn nằm trong ngưỡng quy chuẩn cho phép. Bụi PM2.5 và chỉ số AQI ở mức xấu hơn trong thời gian đêm và sáng sớm, do điều kiện thời tiết khí hậu (hiện tượng nghịch nhiệt) kết hợp với các nguồn ô nhiễm từ các hoạt động dân sinh, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải.... Thời gian còn lại trong ngày khi có thay đổi về điều kiện thời tiết, các thông số này sẽ giảm đi.

Các hoạt động đã triển khai

Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã tham mưu cho Chính phủ ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật giảm thiểu ô nhiễm không khí như: Quy định về trách nhiệm và một số biện pháp quản lý chất lượng không khí trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật; Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025[3] nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng không khí thông qua kiểm soát nguồn phát sinh khí thải và giám sát chất lượng không khí xung quanh; Quy hoạch mạng lưới quan trắc TN&MT quốc gia giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030[4] nhằm tăng cường năng lực quan trắc, cảnh báo, giám sát chất lượng môi trường, trong đó có môi trường không khí.

Hiện nay, Bộ TN&MT đã trình Thủ tướng Chính phủ Chỉ thị về tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí tại Tờ trình số 28/TTr-BTNMT ngày 20/7/2020, trong đó giao trách nhiệm cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương để cải thiện chất lượng môi trường không khí; đang triển khai nhiệm vụ lập Quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 274/QĐ-TTg ngày 18/02/2020.

Trước tình hình gia tăng ô nhiễm không khí tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ TN&MT đã có văn bản gửi 02 thành phố này[5] đề nghị tăng cường triển khai các giải pháp, trong đó tập trung thống kê, đánh giá hiện trạng ô nhiễm không khí; tăng cường quan trắc, công bố, cảnh báo thông tin tới người dân. Đã có các văn bản đôn đốc các Bộ, ngành, địa phương yêu cầu tiếp tục tăng cường kiểm soát ô nhiễm không khí và xử lý triệt để điểm nóng về ô nhiễm bụi; chỉ đạo, giao nhiệm vụ cho UBND cấp huyện, cấp xã tuyên truyền, vận động người dân không đốt rác, rơm rạ sau thu hoạch; tăng cường tần suất quan trắc để kịp thời đưa ra cảnh báo cần thiết đối với người dân; triển khai nghiêm túc Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất lượng không khí[6].

Các Bộ, ngành liên quan như Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công Thương cũng đã tham mưu và tổ chức thực hiện một số chương trình, đề án như: Đề án “Kiểm soát khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông tại các tỉnh, thành phố”; tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 16/2019/QĐ-TTg ngày 28/3/2019 quy định lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với xe ô-tô tham gia giao thông và xe ô-tô đã qua sử dụng nhập khẩu. 

Các địa phương cũng đã cải thiện từng bước chất lượng môi trường không khí trên địa bàn. Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai đồng bộ từ việc ban hành các chỉ thị, quy định và tổ chức các giải pháp kỹ thuật để kiểm soát các nguồn thải từ phương tiện giao thông, công nghiệp…

Hoạt động quan trắc chất lượng không khí tại các đô thị lớn trong thời gian qua để cung cấp thông tin cảnh báo chất lượng không khí tới người dân, cộng đồng đã có nhiều chuyển biến tích cực. Ở cấp quốc gia, Bộ TN&MT đã và đang triển khai chương trình quan trắc môi trường không khí tại 03 vùng Kinh tế trọng điểm Bắc, Trung, Nam; một số chương trình quan trắc của các Bộ, ngành. Ở cấp địa phương, chương trình quan trắc môi trường, trong đó có môi trường không khí cũng được triển khai định kỳ hàng năm. Hệ thống quan trắc môi trường không khí tự động cũng đã đầu tư phát triển khá mạnh mẽ cả ở trung ương và địa phương. Các số liệu quan trắc chất lượng không khí cũng đã được công bố trên báo chí, truyền thanh, truyền hình, trang thông tin điện tử.

Các giải pháp trong thời gian tới

Đối với các Bộ, ngành: Tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường và cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển các loại phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch; chú trọng phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường; thiết lập các hàng rào kỹ thuật, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường, tiệm cận với tiêu chuẩn của các nước tiên tiến trên thế giới; áp dụng tiêu chuẩn khí thải xe ô tô, xe gắn máy theo hướng chặt chẽ hơn. Tiếp tục nghiên cứu, thể chế hóa các quy định được đề xuất trong dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, trong đó làm rõ trách nhiệm thực hiện các biện pháp khẩn cấp khi xảy ra ô nhiễm không khí như sau:

Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Kế hoạch quốc gia quản lý chất lượng môi trường không khí; chỉ đạo thực hiện các biện pháp khẩn cấp trong trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng và xuyên biên giới.

Bộ TN&MT xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch quốc gia về quản lý chất lượng môi trường không khí; hướng dẫn lập kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí cấp tỉnh, hướng dẫn đánh giá chất lượng môi trường không khí. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đánh giá, theo dõi chất lượng môi trường không khí và công khai thông tin; cảnh báo cho cộng đồng và triển khai các biện pháp xử lý trong trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm gây tác động đến sức khỏe cộng đồng; tổ chức thực hiện các biện pháp khẩn cấp trong trường hợp chất lượng không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng trên địa bàn.

Sau khi Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi được ban hành, Bộ TN&MT sẽ xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, trong đó sẽ quy định cụ thể các nội dung nêu trên.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các nguồn phát thải gây ô nhiễm môi trường không khí trong lĩnh vực được giao quản lý, đặc biệt là lĩnh vực giao thông, xây dựng, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm để tạo tính răn đe.

Xây dựng, thiết lập mạng lưới các trạm quan trắc không khí tự động, liên tục đủ lớn, đảm bảo cho việc quan trắc, thu nhận, truyền dẫn số liệu giúp các cơ quan quản lý có thể theo dõi, giám sát, cảnh báo, dự báo được chất lượng môi trường không khí, đặc biệt là tại các đô thị lớn.

Thực hiện các chương trình tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức  của người dân và doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trường không khí nói riêng. Xây dựng và sớm đưa nội dung giáo dục về bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ môi trường không khí vào chương trình đào tạo tại các cấp học.

Đối với Uỷ ban nhân dân các thành phố, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh:

Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí của địa phương, trong đó ưu tiên triển khai quan trắc, phân tích, đánh giá và kiểm soát nguồn ô nhiễm bụi mịn (PM2.5); chỉ đạo thực hiện biện pháp khẩn cấp khi môi trường không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng trên địa bàn quản lý;

Ưu tiên bố trí ngay nguồn lực lắp đặt bổ sung các trạm quan trắc môi trường; đồng thời tiến hành quan trắc thường xuyên, liên tục, định kỳ, tăng tần suất trong các thời điểm giao mùa để cung cấp các nguồn dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường không khí chính thống cho cộng đồng xã hội thông qua các phương tiện truyền thông hoặc thông tin dự báo khí tượng, thời tiết định kỳ;

Tổ chức các biện pháp kiểm soát, điều tiết các phương tiện giao thông hợp lý; thu hồi, loại bỏ phương tiện cơ giới lạc hậu, cũ nát không đủ tiêu chuẩn lưu hành gây ô nhiễm môi trường, phát triển hệ thống giao thông công cộng và khuyến khích người dân giảm phương tiện cá nhân, quản lý chất thải, khí thải phát sinh từ các hoạt động xây dựng và phát triển đô thị để giảm thiểu khí thải, bụi phát tán;

Thống kê, đánh giá nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tại các điểm nóng xảy ra ô nhiễm không khí, từ các cơ sở công nghiệp; tập trung hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra các chủ dự án, đơn vị quản lý, thi công các công trình xây dựng, các cơ sở sản xuất có lò đốt, ống khói xả thải trên địa bàn thành phố thực hiện đúng quy định, kiên quyết xử lý theo thẩm quyền hoặc đề xuất các biện pháp xử lý theo đúng quy định của pháp luật, công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng;

Triển khai kế hoạch tuyên truyền, vận động, hỗ trợ các hộ gia đình, hộ kinh doanh nhỏ hạn chế, không sử dụng than và bếp than tổ ong trong sinh hoạt, tiến tới kiên quyết cấm sử dụng toàn bộ than tổ ong làm nguyên liệu đốt từ năm 2021;

Đầu tư xây dựng thêm nhiều khu vực không gian xanh, khu vui chơi, giải trí công cộng, trồng thêm nhiều cây xanh trong các khu vực đô thị.

Quản lý chất thải rắn sinh hoạt

Thực trạng và nguyên nhân

Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) phát sinh khoảng hơn 64.000 tấn/ngày (đô thị: 35.600 tấn/ngày, nông thôn: 28.400 tấn/ngày). Việc phân loại tại nguồn mới chỉ được thực hiện tại một số địa phương và còn mang tính khuyến khích, chưa có tính cưỡng chế cao. Công tác vận chuyển hiện còn gặp nhiều khó khăn, các bãi chôn lấp chất thải thường ở xa khu dân cư làm tăng chi phí vận chuyển. Năng lực vận chuyển của một số địa phương còn hạn chế, phương tiện vận chuyển còn gây rò rỉ, rơi vãi chất thải trong quá trình vận chuyển. Về xử lý, hơn 70% tổng lượng chất thải được xử lý bằng phương pháp chôn lấp. Một số địa phương đầu tư các lò đốt cấp xã để xử lý chất thải rắn, việc này đã góp phần giải quyết vấn đề CTRSH tại nông thôn. Tuy nhiên, một số lò đốt có công suất nhỏ không đáp ứng yêu cầu về công suất tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 61:2016/BTNMT về lò đốt chất thải rắn sinh hoạt.

Hiện nay, trên cả nước còn để xảy ra một số vụ khiếu kiện phức tạp liên quan đến việc xây dựng và triển khai các dự án xử lý CTRSH, trong đó có vụ việc người dân tại xã Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội cản trở, phản đối hoạt động của Nhà máy xử lý CTRSH Nam Sơn như Đại biểu đã nêu. Theo quy hoạch của thành phố Hà Nội, hơn 2.000 hộ dân quanh bán kính 500 m bị ảnh hưởng từ bãi rác Nam Sơn sẽ được di dời đến các khu tái định cư, cách bãi rác từ 01 đến 07 km. Tuy nhiên, người dân cho rằng thành phố Hà Nội và huyện Sóc Sơn chậm thực hiện các chính sách phục vụ công tác di dời nên nhiều lần chặn xe vào khu xử lý rác. Bên cạnh đó, bãi rác Nam Sơn đã hoạt động trong tình trạng quá tải, bãi rác đã đi vào vận hành hơn 20 năm (thời hạn vận hành bãi rác là 20 năm) song việc chỉ đạo tổ chức thực hiện các kết luận, văn bản chỉ đạo của thành phố tại cấp cơ sở còn chậm và bị động, không giải quyết căn cơ các vấn đề phát sinh. 

Các hoạt động đã triển khai

Sau khi Chính phủ có Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 03/2/2019, Bộ TN&MT đã rà soát các quy định pháp luật và báo cáo Thủ tướng Chính phủ để đề xuất phương án sửa đổi làm cơ sở thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn (CTR); tổ chức đoàn công tác làm việc với 63 tỉnh về công tác quản lý CTR tại các địa phương; đẩy mạnh công tác tuyên truyền về CTR. Tổ chức nhiều hội thảo để rà soát, đánh giá, đề xuất lựa chọn công nghệ xử lý CTR phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam theo hướng giảm tỷ lệ chất thải phải chôn lấp, tăng tỷ lệ chất thải được tái chế, tái sử dụng.

Bộ TN&MT đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Chỉ thị về một số giải pháp cấp bách tăng cường quản lý chất thải rắn, trong đó có nhiều giải pháp nhằm quản lý hiệu quả CTRSH. Hiện nay, Bộ đang triển khai nhiệm vụ lập quy hoạch bảo vệ môi trường, trong đó có nội dung quy hoạch về CTR.

Bộ TN&MT hiện cũng đang chủ trì xây dựng dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, trong đó có nhiều quy định mới nhằm tăng cường tái chế, tái sử dụng chất thải, phân loại rác tại nguồn... Các quy định khi được ban hành sẽ góp phần giải quyết những khó khăn trong công tác quản lý rác thải tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, khuyến khích tái chế, tái sử dụng rác thải, giảm thiểu lượng chất thải phải xử lý tập trung.

Duy trì hiệu quả hoạt động của Đường dây nóng về môi trường từ Trung ương đến địa phương để kịp thời nắm bắt thông tin phản ánh từ người dân; qua đó trực tiếp tổ chức xác minh hoặc yêu cầu Sở TN&MT địa phương kiểm tra, xác minh và có báo cáo về Bộ TN&MT để trả lời, giải quyết kịp thời phản ánh của người dân.

Về phía các địa phương, hầu hết các địa phương đã lập quy hoạch quản lý CTR. Bên cạnh đó còn có các quy hoạch vùng về quản lý CTR như: quy hoạch quản lý CTR vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2030, quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTR lưu vực sông Cầu đến năm 2020, quy hoạch quản lý CTR sông Nhuệ - sông Đáy đến năm 2030, quy hoạch quản lý CTR lưu vực sông Đồng Nai đến năm 2030. Với định hướng xử lý CTR tập trung quy mô lớn, nhiều địa phương đã đầu tư hệ thống xử lý bài bản, hiệu quả, quy mô cấp huyện, liên huyện, như: Nghĩa Đàn (Nghệ An), Cẩm Xuyên, Can Lộc (Hà Tĩnh), Hưng Yên, Uông Bí (Quảng Ninh), Tam Điệp (Ninh Bình), Thanh Liêm (Hà Nam), Quảng Bình, Cần Thơ... Điển hình là tại tỉnh Đồng Nai, tỷ lệ chôn lấp CTR sinh hoạt chỉ còn 43% (thấp nhất trong cả nước).

Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp nói trên, tỷ lệ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở cả đô thị và nông thôn tăng dần theo từng năm. Tỷ lệ chất thải rắn được thu gom xử lý tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 92% (tăng 7% so với năm 2016, tăng 6% so với năm 2018), tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 66% (tăng 15% so với năm 2016, tăng 6% so với năm 2018).

Các giải pháp trong thời gian tới

Giải pháp chung:

Thực hiện phân định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, các cơ quan của địa phương trong quản lý chất thải rắn theo đúng chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 09/NQ-CP bảo đảm phương án thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn với mục tiêu giao Bộ TN&MT là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn sinh hoạt ở cấp Trung ương và Sở TN&MT là cơ quan chuyên môn giúp việc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong vấn đề quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa phương;

Quyết liệt yêu cầu các địa phương khi thực hiện tiêu chí về môi trường trong khuôn khổ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới không đầu tư các lò đốt cỡ nhỏ không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường;

Tập trung phân loại rác tại nguồn trên địa bàn, tăng thêm chất thải có khả năng tái chế, hạn chế chôn lấp trong thời gian tới; giải tỏa đền bù, di dời người dân ra khỏi khu vực xung quanh các bãi chôn lấp.

Duy trì các tổ giám sát, thanh tra, kiểm tra thường xuyên, định kỳ. Duy trì hiệu quả hoạt động của Đường dây nóng để tiếp nhận, giải quyết kiến nghị của người dân;

Đẩy mạnh xã hội hoá công tác thu gom, vận chuyển và vận hành cơ sở xử lý CTR. Tăng dần nguồn thu phí vệ sinh, giảm dần hỗ trợ từ ngân sách cho hoạt động thu gom, vận chuyển CTRSH.

Nghiên cứu phát triển công nghệ xử lý CTRSH hiện đại, thân thiện môi trường, theo hướng giảm thiểu lượng CTRSH chôn lấp, tăng cường tỷ lệ tái chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải.

Giải pháp đối với vụ việc tại bãi rác Nam Sơn (Hà Nội):

Để giải quyết tình trạng rác thải sinh hoạt hiện nay nói chung và tình trạng rác thải xử lý bãi rác Nam Sơn nói riêng, trước mắt, Bộ TN&MT sẽ đôn đốc UBND thành phố Hà Nội rà soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong công tác thu gom, vận chuyển rác thải; tuyên truyền, ổn định tư tưởng cho người dân; không để rác tồn đọng trong khu vực nội đô.  

Về lâu dài, Bộ TN&MT sẽ phối hợp chặt chẽ với UBND thành phố Hà Nội đẩy nhanh tiến độ triển khai xây dựng Dự án xử lý rác thải bằng công nghệ đốt phát điện với công suất thiết kế 4.000 tấn/ngày đêm tại Sóc Sơn, bảo đảm hoàn thành trong năm 2021; Dự án xử lý rác thải bằng công nghệ đốt phát điện với công suất thiết kế từ 1.500 tấn/ngày đêm đến 2.000 tấn/ngày đêm tại Sơn Tây.

 


[1] Các thông số khác NO2, CO, SO2, Pb nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 05:2013/BTNMT (trung bình 1 giờ)

[2] Giá trị TSP trung bình và giá trị Laeq (mức áp suất âm, tiếng ồn) trung bình vượt ngưỡng theo QCVN 05:2013/BTNMT (trung bình 1 giờ) và QCVN 26:2010/BTNMT (khung thời gian từ 6-21h) tại một số thời điểm quan trắc. Các thông số NO2 và SO2 đều cho giá trị nằm trong ngưỡng giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT (trung bình 1 giờ)

[3] Quyết định số 985a/QĐ-TTg ngày 01/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

[4] Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 12/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

[5] Công văn số 1807/BTNMT-TCMT ngày 18/4/2019.

[6] Công văn số 1773/BTNMT-TCMT ngày 18/4/2019 gửi các Bộ: Công Thương; Giao thông vận tải; Xây dựng; Nội vụ; Khoa học và Công nghệ; Giáo dục và Đào tạo; Tài chính; Kế hoạch và Đầu tư; Thông tin và Truyền thông; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Y tế; và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan