Thứ 5, 03/12/2020 - 17:57
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Lâm Thành (Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn)

Tại Phiên chất vấn Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, do thời gian không cho phép nên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa có điều kiện giải trình, làm rõ thêm nội dung Đại biểu nêu liên quan đến việc tham mưu Chính phủ ban hành giải pháp, chính sách và lộ trình áp dụng công cụ kinh tế theo nguyên tắc thị trường gắn với việc thực hiện Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi).

Tại Nghị quyết số 33/2016/QH14 về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội đã giao Chính phủ thực hiện giải pháp xây dựng và áp dụng các công cụ kinh tế về việc kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường theo nguyên tắc thị trường. Thực hiện nhiệm vụ này, thời gian qua, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định, cơ chế, chính sách tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường. Theo đó, đã sửa đổi, bổ sung quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế bảo vệ môi trường (Thông tư số 106/2018/TT-BTC ngày 15/11/2018 của Bộ Tài chính); hoàn thiện quy định về phí BVMT đối với nước thải để phù hợp với tình hình thực tiễn phát triển của đất nước (Nghị định số 53/2020/NĐ-CP ngày 05/5/2020 thay thế Nghị định số 154/2016/NĐ-CP); đang xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Đề án phí bảo vệ môi trường đối với khí thải để triển khai áp dụng trong thời gian tới; tiếp tục thực hiện các công cụ kinh tế khác như ký quỹ phục hồi môi trường, đặt cọc hoàn trả... Một số chính sách, công cụ kinh tế để quản lý chất thải rắn cũng đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo lồng ghép trong Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến 2050 (Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 07/5/2018); trong Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030 (Quyết định số 1746/QĐ-TTg ngày 04/12/2019); trong Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 20/8/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa…

Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng các công cụ kinh tế này trong thời gian qua chưa mang lại hiệu quả cao, mới chỉ góp phần tăng nguồn thu ngân sách mà chưa góp phần hữu hiệu trong việc điều chỉnh, thay đổi các hành vi theo hướng có lợi cho môi trường, giảm phát thải ra môi trường hay khuyến khích sản xuất, tiêu thụ bền vững, phát triển sản phẩm, hàng hoá thân thiện với môi trường.

Để giải quyết bất cập này, Bộ TN&MT với vai trò là cơ quan soạn thảo, đã đề xuất, tham mưu Chính phủ trình Quốc hội xem xét, tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất, xuyên suốt, cùng với cơ chế, chính sách mới mang tính đột phá để phát huy hiệu quả áp dụng các công cụ kinh tế để BVMT trong Dự thảo Luật BVMT (sửa đổi) lần này (Dự thảo Luật). Cụ thể:

Tiếp tục xác lập, thể chế hóa các nguyên tắc cơ bản của cơ chế kinh tế thị trường trong BVMT, đó là: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường; gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải chi trả, khắc phục, xử lý và chịu trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

Lần đầu tiên có một mục riêng về “Công cụ kinh tế cho BVMT” trong Dự thảo Luật. Trong đó, đã đưa ra quy định về chính sách thuế, phí về BVMT, ngay trong Luật BVMT để quy định về mặt nguyên tắc xác định đối tượng, căn cứ tính thuế nhằm nâng cao, tạo hành lang pháp lý trong quá trình tổ chức triển khai áp dụng hai loại công cụ kinh tế quan trọng này. Mặc dù trước đây chúng ta đã sử dụng thuế BVMT nhưng chủ yếu thu theo thuế “gián thu” dựa trên đơn vị sản phẩm, nhưng lần này đã đưa ra nguyên tắc thu thuế không chỉ thu theo các sản phẩm, hàng hóa gây tác động xấu đến môi trường trong quá trình sử dụng mà còn dựa trên chất ô nhiễm môi trường, tức là có thể thu “trực tiếp” chất thải ra môi trường, mức độ độc hại của chất thải. Về phí BVMT, Dự thảo Luật cũng đưa ra những nguyên tắc thu phí sát thực hơn nhằm mục tiêu thay đổi hành vi của người gây ô nhiễm, thu phí theo khối lượng, mức độ độc hại của chất ô nhiễm thải ra môi trường, đặc điểm của môi trường tiếp nhận chất thải; mức độ tác động xấu đến môi trường của hoạt động khai thác khoáng sản; tính chất dịch vụ công thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Để giải quyết vấn đề rác thải sinh hoạt đang đặt ra bức xúc hiện nay, Dự thảo Luật đã quy định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt từ hộ gia đình, cá nhân được thực hiện dựa trên khối lượng, thể tích chất thải đã được phân loại (Chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế; chất thải thực phẩm; chất thải rắn sinh hoạt khác) thay cho việc tính bình quân theo hộ gia đình hoặc đầu người như hiện nay. Mục đích của quy định này là vận dụng nguyên tắc của cơ chế thị trường để thúc đẩy người dân phân loại, giảm thiểu rác thải phát sinh tại nguồn do nếu không thực hiện việc này thì chi phí xử lý rác thải phải nộp sẽ cao. Đây là vấn đề đã được các quốc gia trên thế giới thực hiện rất thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia phát triển khác. Ngoài ra, Dự thảo Luật cũng đưa ra những quy định để tiếp tục thực hiện, hoàn thiện các cơ chế, chính sách kinh tế khuyến khích hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải rắn; phát triển công nghệ xử lý chất thải rắn phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam theo hướng giảm tỷ lệ chất thải phải chôn lấp, tăng tỷ lệ chất thải được tái chế, tái sử dụng, xử lý chất thải thu hồi năng lượng, thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn.

Dự thảo Luật lần đầu tiên đã quy định trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế phải tái chế theo tỷ lệ, quy cách tái chế bắt buộc thông qua hình thức tự tổ chức tái chế hoặc đóng góp tài chính để hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động tái chế. Theo đó, các sản phẩm, bao bì thải bỏ như chất thải điện tử, pin, ắc quy, săm lốp, bao bì nhựa, pin năng lượng mặt trời.v.v. sẽ được thu hồi, tái chế bởi nhà sản xuất, nhà nhập khẩu. Ngoài ra, dự thảo Luật cũng quy định nhà sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì chứa các chất độc hại (như bao bì thuốc bảo vệ thực vật, trừ sâu), khó có khả năng tái chế hoặc gây khó khăn cho thu gom, xử lý (như đồ nhựa dùng một lần, thuốc lá, kẹo cao su.v.v.) thì phải có trách nhiệm đóng góp tài chính để hỗ trợ trực tiếp cho địa phương, cộng đồng dân cư thực hiện các hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, nghiên cứu, phát triển công nghệ, kỹ thuật, sáng kiến xử lý chất thải rắn sinh hoạt; thu gom, vận chuyển, xử lý bao bì chứa hóa chất bảo vệ thực vật.

Dự thảo Luật cũng đã lần đầu tiên quy định chế định về tổ chức và phát triển thị trường các - bon như là công cụ kinh tế để thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính trong nước, góp phần thực hiện đóng góp về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính do Việt Nam cam kết khi tham gia Thỏa thuận Paris về BĐKH. Đồng thời, quy định về chi trả dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên để thiết lập hành lang pháp lý đối với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên phải trả tiền cho tổ chức, cá nhân cung ứng giá trị môi trường, cảnh quan do hệ sinh thái tự nhiên tạo ra để bảo vệ, duy trì và phát triển hệ sinh thái tự nhiên.

Về lộ trình áp dụng: Để bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn, với các công cụ hiện đã được áp dụng sẽ được quy định ngay trong các văn bản hướng dẫn thi hành; với các công cụ kinh tế mới như tín dụng xanh, trái phiếu xanh, thị trường các - bon trong nước, Dự thảo Luật đã giao Chính phủ quyết định lộ trình thực hiện để bảo đảm tính khả thi; riêng đối với giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt từ hộ gia đình, cá nhân theo nguyên tắc dựa trên lượng chất thải đã được phân loại sẽ được thực hiện chậm nhất trước ngày 31/12/2024. Với những chính sách, giải pháp như trên, Bộ TN&MT tin tưởng rằng thời gian tới đây, cùng với các công cụ pháp lý, hành chính, các công cụ kinh tế theo nguyên tắc thị trường sẽ được áp dụng hiệu quả, thành công nhằm phòng ngừa, kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan