Thứ 2, 15/08/2022 - 10:32
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tiếp tục quan tâm đối với việc phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc phối hợp với các Bộ trả lời kiến nghị của cử tri sau kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XIV và đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc trả lời các kiến nghị của cử tri trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao liên quan tới việc tiếp tục quan tâm đối với việc phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long.

Cử tri đề nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm đối với việc phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư cho các tỉnh ở khu vực này. Bên cạnh đó, cử tri cũng kiến nghị Chính phủ nhanh chóng thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể trước tình trạng khu vực đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với các vấn đề hạn hán, sạt lở bờ sông, bờ biển, sụt lún đất ngày càng nghiêm trọng (cử tri thành phố Hồ Chí Minh)

Để phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long, Chính phủ đã đề ra các giải pháp thích ứng với vấn đề biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long tại Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 120/NQ-CP), trong đó, Chính phủ đã giao: 

Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát, hoàn thiện, lập quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch tài nguyên nước, quy hoạch bảo vệ môi trường, quy hoạch khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ của đồng bằng sông Cửu Long. Kiểm soát chặt chẽ việc khai thác cát; lượng cát khai thác, vị trí và thời gian khai thác phải dựa vào kết quả phân tích lượng cát về đồng bằng sông Cửu Long theo từng năm bảo đảm không tăng nguy cơ xói lở bờ sông, bờ biển. 

Bộ Kế hoạch và Đầu tư sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư hiện có để xây dựng hệ thống cống điều tiết lũ, ngăn mặn, khắc phục các đoạn sạt lở nghiêm trọng, trực tiếp gây ảnh hưởng đến nhà cửa của nhân dân và bảo vệ đất, rừng ngập mặn ven biển. 

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng đề án bảo vệ bờ biển, củng cố nâng cấp hệ thống đê biển, phòng chống xói lở bờ biển; tập trung đầu tư xử lý ngay những đoạn xói lở, sạt lở bờ sông, bờ biển nghiêm trọng. Xây dựng quy hoạch chỉnh trị sông gắn với quy hoạch sử dụng đất ven sông theo hướng dành không gian thoát lũ, xây dựng công trình giao thông kết hợp với đê điều. 

Bộ Xây dựng rà soát, chỉnh sửa, bổ sung và triển khai có hiệu quả quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị, nông thôn phù hợp với các đặc trưng sinh thái tự nhiên của vùng, quan tâm bố trí sắp xếp bố trí lại dân cư, di dời nhà ở ven sông, kênh, rạch giảm thiểu nguy cơ sạt lở.

Trên cơ sở Nghị quyết số 120/NQ-CP, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan, các đối tác phát triển, chuyên gia và nhà khoa học tiến hành xây dựng Chương trình hành động tổng thể thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP trình Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 417/QĐ-TTg ngày 13/4/2019. Trong đó đề ra nhiều nhiệm vụ và giải pháp cụ thể như:

Thực hiện ngay những nhiệm vụ cấp bách về chống sạt lở, sụt lún nghiêm trọng tại một số khu vực bờ biển, bờ sông. Đẩy mạnh công tác điều tra, khảo sát, xây dựng và phê duyệt các dự án đầu tư để triển khai thực hiện ở giai đoạn sau năm 2020. Một số nhiệm vụ cụ thể gồm: Bảo vệ bờ biển, củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển, kết hợp với hệ thống thủy lợi, hệ thống kè phòng chống xói lở bờ biển; tập trung đầu tư xử lý ngay những đoạn bờ sông, bờ biển bị sạt lở, xói lở nghiêm trọng. Đầu tư các kè tạo bãi trồng rừng ngập mặn; phát triển rừng ngập mặn phục vụ bảo vệ hệ thống đê biển, đê sông, phát triển sinh kế sinh thái gắn với rừng. Phát triển hệ thống đô thị và điểm dân cư nông thôn phù hợp với đặc điểm của hệ sinh thái tự nhiên, điều kiện cụ thể của vùng và từng tiểu vùng sinh thái. Nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống thủy lợi phục vụ phòng chống thiên tai, phát triển sinh kế, phục vụ chuyển đổi, phát triển và tái cơ cấu nông nghiệp bền vững tại các tiểu vùng sinh thái, trong đó đẩy mạnh hình thức đối tác công - tư. Bảo đảm nhà ở an toàn trong điều kiện ngập lụt, khô hạn, bão, lũ, giông, lốc, nước biển dâng. Trước mắt đầu tư, xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ; thí điểm xây dựng mô hình nhà, công trình phòng, tránh lốc, bão. Đầu tư hoàn chỉnh hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, ưu tiên các công trình giao thông tại các vùng có nguy cơ cao về ngập lụt; các công trình phục vụ kết nối, trung chuyển thúc đẩy vận tải đa phương thức tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long; đầu tư, xây dựng, phát triển đồng bộ hạ tầng thông tin và truyền thông, mạng lưới cấp điện, cấp nước, thoát nước, y tế. Đầu tư hệ thống cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải, các khu xử lý chất thải rắn; đẩy mạnh các hoạt động tái chế, tái sử dụng và sản xuất năng lượng từ rác cho vùng đồng bằng sông Cửu Long theo định hướng phát triển bền vững.

Các nhiệm vụ và giải pháp nêu trên được giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long có liên quan chủ trì thực hiện.

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 73/NQ-CP ngày 26/8/2016 phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu giai đoạn 2016-2020, trong đó có các chương trình mục tiêu sau:

Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng, tăng giá trị rừng sản xuất trên đơn vị diện tích; góp phần đáp ứng các yêu cầu về giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; nâng độ che phủ rừng lên 42%; diện tích rừng các loại đạt 14,4 triệu ha. 

Chương trình mục tiêu tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phòng chống giảm nhẹ thiên tai, ổn định đời sống dân cư với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 là củng cố, tu bổ khoảng 650km đê biển; chủ động phòng chống và hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra. 

Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, có mục tiêu cụ thể phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành 30 dự án chuyển tiếp; 42 dự án trồng rừng ngập mặn ven biển, phòng hộ đầu nguồn và một số dự án ưu tiêu cấp bách tại Văn bản số 1443/TTg-QHQT ngày 19/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ sau khi đã rà được rà soát; trồng, phục hồi 10.000 ha rừng ngập mặn ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, hấp thụ 02 triệu tấn khí CO2 mỗi năm và tạo sinh kế ổn định cho người dân; xây dựng 01 hệ thống giám sát biến đổi khí hậu, 01 hệ thống giám sát, dự báo xâm nhập mặn thuộc quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016-2025, tầm nhìn đến năm 2030 theo Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 12/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng, nâng cấp 200km đê, kè sông, biển xung yếu ở những khu vực có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến sản xuất, tính mạng và đời sống của trên 03 triệu người dân ở những khu vực ven sông, ven biển.

Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, trình các cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật như Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, trong đó quy định nhiều biện pháp tổng thể để phòng chống, giảm thiểu hiện tượng sạt lở bờ biển như: triển khai nhiệm vụ lập Quy hoạch không gian biển quốc gia, Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ; đôn đốc, hướng dẫn các địa phương thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, lập và thực hiện Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ.

Nội dung các quy hoạch này cũng như yêu cầu của việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển, thực hiện các chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ bao gồm các yêu cầu, định hướng, giải pháp phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng…; góp phần hạn chế, khắc phục tình trạng sạt lở bờ biển đang diễn ra tại các địa phương có biển.

Ban cán sự Đảng Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng, trình Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/1018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Một trong những mục tiêu của Chiến lược là về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, trong đó đã đề ra một số mục tiêu: (i) Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo; tăngdiện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển tối thiểu bằng mức năm 2000; (ii) Năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, động đất, sóng thần, quan trắc, giám sát môi trường biển, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bao gồm cả thông qua việc ứng dụng công nghệ vũ trụ và trí tuệ nhân tạo, đạt trình độ ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực; có biện pháp phòng, tránh, ngăn chặn, hạn chế tác động của triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 05/3/2020 ban hành Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó có một số nội dung, giải pháp thực hiện như:

Kế hoạch tổng thể đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045: Triển khai thực hiện quy hoạch các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và khu đô thị ven biển đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt bảo đảm theo hướng bền vững, dựa vào hệ sinh thái, thích ứng thông minh với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, đáp ứng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; tiếp tục thực hiện các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ phục hồi và phát triển các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, đầm phá, bãi triều - cửa sông, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển; đầu tư xây dựng hệ thống đô thị thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển; nâng cấp hệ thống dự báo, cảnh báo thiên tai, động đất, sóng thần; phòng, chống biển xâm thực, xói sạt lở bờ biển, ngập lụt, xâm nhập mặn; hoàn thiện chính sách tài chính và bảo hiểm rủi ro thiên tai; xây dựng cơ chế đồng bộ trong việc quản lý hành lang bảo vệ bờ biển, bảo đảm quyền tiếp cận của người dân với biển tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển.

Kế hoạch 5 năm đến năm 2025: Xây dựng mô hình phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, mô hình hệ sinh thái bền vững cho các biển, hải đảo tại các vùng biển và ven biển Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ và Tây Nam Bộ; cải tạo, nâng cấp hệ thống đê chắn sóng, chắn cát, kè chỉnh trị tại một số cửa biển; đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng về nước sạch và thủy lợi cấp, tiêu thoát nước cho phát triển các ngành kinh tế, sinh hoạt, du lịch, dịch vụ tại các vùng ven biển, các đảo có người sinh sống; thực hiện các chương trình, đề án, dự án phục hồi và phát triển các hệ sinh thái san hô, thảm cỏ biển, đầm phá, bãi triều - cửa sông, rừng ngập mặn và rừng phòng hộ ven biển toàn quốc, trong đó ưu tiên các khu vực có tốc độ suy thoái nhanh; thực hiện đầu tư xây dựng hệ thống đô thị thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng tại các thành phố Hạ Long, Hải Phòng, Hội An, Bạc Liêu, Phú Quốc; thực hiện đầu tư, nâng cấp hệ thống dự báo, cảnh báo thiên tai, động đất, sóng thần khu vực Hải Phòng, Hội An; phòng, chống biển xâm thực, xói lở bờ biển, ngập lụt, xâm nhập mặn; hoàn thiện chính sách tài chính và bảo hiểm rủi ro thiên tai tại khu vực các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; tổ chức nghiên cứu, thực hiện đầu tư xây dựng, củng cố lực lượng, trang thiết bị hệ thống quan trắc, giám sát, dự báo, cảnh báo tự động về chất lượng môi trường biển, ứng phó có hiệu quả các vấn đề về ô nhiễm, sự cố môi trường biển, gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 tại Quyết định số 2295/QĐ-TTg ngày 17/12/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang chủ trì triển khai thực hiện, trong đó bao gồm các nhiệm vụ, giải pháp góp phần hạn chế, khắc phục tình trạng sạt lở bờ biển.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện, đôn đốc triển khai các nhiệm vụ thuộc Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” theo Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg ngày 01/03/2006 của Thủ tướng Chính phủ (Đề án 47). Kết quả thực hiện các nhiệm vụ của Đề án 47 đã góp phần quan trọng trong công tác quản lý về tài nguyên, môi trường biển nói chung cũng như việc phòng chống, giảm thiểu hiện tượng sạt lở bờ biển nói riêng như: đã khoanh định được các khu vực kém ổn định về địa chất công trình, đồng thời đã xác định các quá trình địa chất động lực công trình như hiện tượng ngập lụt, xói lở và bồi tụ; kiến nghị định hướng các giải pháp bảo vệ, khai thác vùng cửa sông, ven biển như: (1) Định hướng đề xuất các biện pháp xây dựng hệ thống đê ngăn cát giảm sóng bảo vệ bờ; (2) Đề xuất xây dựng đập hướng dòng, chắn sóng, chắn bùn cát tập trung dòng chảy tạo điều kiện giải phóng dần các bãi bồi chắn cửa, hạn chế sự bồi lấp tăng khả năng thoát lũ, tạo luồng giao thông; (3) Đề xuất nghiên cứu trồng cây chống sóng và ngăn cát bay, cát nhảy, ổn định bờ hạn chế sự phá hoại của sóng tràn; (4) Đề xuất các khu vực cần nuôi bãi nhân tạo, khôi phục lại vùng bờ biển bị xói, sạt; (5) Cung cấp tài liệu cơ bản phục vụ điều chỉnh bổ sung tuyến đê biển kết hợp giao thông, tuyến đê biển kết hợp an ninh quốc phòng...

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 28/QĐ-TTg ngày 07/01/2020 phê duyệt Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, trong đó có nhiều nhiệm vụ liên quan đến công tác điều tra, dự báo phục vụ phòng chống, giảm thiểu hiện tượng sạt lở bờ biển.

Ngoài ra, trước tình trạng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với các vấn đề hạn hán, sạt lở bờ sông, bờ biển, sụt lún đất ngày càng nghiêm trọng, về phía Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có các giải pháp cụ thể, bao gồm các giải pháp trước mắt và lâu dài: 

Theo dõi sát diễn biến thời tiết; tăng cường nhận định, dự báo sớm về tình hình khí tượng thuỷ văn, dòng chảy, triều, xâm nhập mặn, cung cấp thông tin kịp thời để các địa phương chủ động chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng, chống. 

Theo dõi chặt chẽ tình hình xả nước của các hồ chứa thuỷ điện trên dòng chính sông Mê Công từ phía Trung Quốc và các hồ chứa trên cá dòng nhánh để có giải pháp xử lý kịp thời bổ sung nguồn nước đẩy mặn nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng thiếu nước ngoạt; tìm kiếm, khai thác nguồn nước dưới đất để kịp thời cấp nước sinh hoạt cho nhân dân các vùng bị thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng... 

Tuyên truyền rộng rãi, hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, nhất là trong tưới tiêu, chống lãng phí nguồn nước.

Các giải pháp dài hạn: 

Tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo, nhất là dự báo hạn tháng, mùa. Xây dựng hệ thống giám sát, dự báo sớm diễn biến tài nguyê nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm cả phần thượng nguồn, toàn lưu vực và sụt lún, sạt lở bờ sông bờ biển. 

Chủ động rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, các quy hoạch ngành, lĩnh vực, đặc biệt là quy hoạch thuỷ lợi, nông nghiệp, nuôi tồng thuỷ sản trên cơ sở khả năng thực tế của nguồn nước và những dự báo về biến động nguồn nước, xâm nhập mặn do tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng theo các kịch bản đã được công bố. 

Nghiên cứu đề xuất các phương án tăng cường khả năng trữ lũ, giữ nước ngọt với quy mô phù họp với Đồng bằng sông Cửu Long nhằm tăng cường trữ nước, điều tiết nguồn nước. 

Xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch tài nguyên nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu và tác động do các hoạt động khai thác sử dụng nước của các quốc gia ở thượng nguồn sông Mê Công. 

Tập trung điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới dất, nhất là các tầng chứa nước nằm sau để phục vụ cấp nước sinh hoạt ở các vùng thường xuyên bị xâm nhập mặn; xây dựng các công trình khai thác nước ngầm để kết hợp dự phòng sẵn sàng ứng phó với xâm nhập mặn khi cần thiết. 

Tăng cường chia sẻ thông tin, dữ liệu toàn vùng; xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp dùng chung cho cả vùng về khí tượng, thuỷ văn, tài nguyên nước, đất đai và cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa trung ương và địa phương, các ngành.

Đàm phán, thuyết phục, đấu tranh để các quốc gia có các hồ chứa thuỷ điện lớn, kể cả ở dòng chính và dòng nhánh, cùng hợp tác trong việc vận hành phát điện, xả nước xuống hạ du, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông ở mức phù hợp, ít nhất cũng bằng mức trung bình như chúng ta đã và đang làm như vậy khi vận hành các hồ trên lưu vực sông Sê San, Srêpok để bảo đảm nguồn nước cho Campuchia. 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan