Thứ 7, 28/05/2022 - 08:00
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phối hợp với các Bộ trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến trước Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV

Ngày 01/09/2020, Bộ TN&MT có Văn bản số 4722/BTNMT-PC về việc hối hợp với các Bộ: Công an, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn hóa, Thể thao và Du lịch trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi đến trước Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV.

Theo đó, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Công văn số 5301/VPCP-QHĐP ngày 01 tháng 7 năm 2020 về việc phối hợp với các Bộ trả lời kiến nghị của cử tri trước kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XIV, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin trả lời các kiến nghị được phân công như sau:

Câu số 3. Đề nghị cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các nội dung còn chưa có quy định cụ thể, quy định chung chung như: Tội gây ô nhiễm môi trường đối với hành vi phạm tội thải ra môi trường khí thải có thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường và hành vi xả thải ra môi trường nước thải, chôn lấp, đổ thải ra môi trường chất thải rắn hoặc phát tán khí thải có chứa chất phóng xạ… để thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện (cử tri tỉnh Tuyên Quang)

Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng thanh tra, xử lý các vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường. Hành vi, hình thức xử phạt đã được quy định cụ thể, chi tiết tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đồng thời, việc xử lý vi phạm đã loại trừ các hành vi tội phạm về môi trường, đảm bảo không trùng lặp, chồng lấn với các quy định về tội phạm môi trường tại Bộ Luật hình sự.

Câu số 30. Theo quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật Đầu tư năm 2014: “Trừ trường hợp được gia hạn, dự án đầu tư bị Nhà nước thu hồi đất và nhà đầu tư không tự thanh lý tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày bị thu hồi đất, cơ quan ra Quyết định thu hồi đất tổ chức thanh lý tài sản gắn liền với đất”. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 14 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013): “Trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định, chủ đầu tư được thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản hợp pháp gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật”. Vì vậy, cử tri Kiên Giang đề nghị Chính phủ xem xét, điều chỉnh thống nhất về thời gian thanh lý tài sản gắn liền với đất giữa Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ, để địa phương dễ thực hiện.(cử tri tỉnh Kiên Giang)

Cử tri phản ánh, theo quy định tại Điều 64, Điều 92 Luật Đất đai 2013, các dự án sau 12 tháng mà không đưa đất vào sử dụng, hoặc sau 24 tháng mà sử dụng đất không đúng tiến độ thì được gia hạn thêm 24 tháng; nếu sau 24 tháng đã gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất, các tài sản đã đầu tư trên đất và không bồi thường tài sản trên đất cho chủ đầu tư. Tuy nhiên, theo Điều 48 Luật Đầu tư 2014 thì tài sản này được giao cho chủ đầu tư thanh lý; trừ trường hợp được gia hạn, dự án đầu tư bị Nhà nước thu hồi đất và nhà đầu tư không tự thanh lý tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày bị thu hồi đất, cơ quan ra quyết định thu hồi đất tổ chức thanh lý tài sản gắn liền với đất. Như vậy, việc xử lý tài sản trong trường hợp này có sự chồng chéo giữa Luật Đất đai 2013 và Luật Đầu tư 2014. Đồng thời, Luật Đất đai 2013 và Luật Đầu tư 2014 không quy định trình tự thủ tục thanh lý tài sản nên các địa phương rất khó xử lý, kéo dài việc xử lý các dự án chậm tiến độ. Vì vậy, cử tri đề nghị Chính phủ nghiên cứu có chủ trương, biện pháp giúp các địa phương xử lý vướng mắc trên nhằm xử lý hiệu quả các dự án chậm tiến độ (cử tri tỉnh Quảng Bình)

Đề nghị nghiên cứu trình Quốc hội sớm sửa đổi Luật Đất đai, xem xét điều chỉnh quy định còn mâu thuẫn giữa Luật Đầu tư và Luật Đất đai về nội dung nhà đầu tư không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện, chậm tiến độ thực hiện dự án.

Luật Đầu tư quy định chấm dứt dự án sau 12 tháng mà nhà đầu tư không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện. Luật Đất đai cho phép gia hạn sử dụng đất 24 tháng và nhà đầu tư phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án. Nhiều dự án đã ban hành quyết định chấm dứt hoạt động do vi phạm thời hạn triển khai dự án theo Luật Đầu tư nhưng không thể thu hồi đất vì vướng quy định của Luật Đất đai cho phép nhà đầu tư gia hạn thời gian sử dụng đất thêm 24 tháng. Nhiều dự án không thể đưa ra quyết định chấm dứt dự án theo Luật Đầu tư vì nếu xử lý chấm dứt sẽ vi phạm quy định của Luật Đất đai.

Quy định về giãn tiến độ và điều chỉnh tiến độ của Luật Đầu tư 2014 và các văn bản hướng dẫn còn chưa rõ ràng, gây khó hiểu trong quá trình thực hiện dự án đầu tư ngoài ngân sách: theo Khoản 3 Điều 46 Luật Đầu tư năm 2014 còn vướng mắc, bất cập, không thống nhất, việc áp dụng quy định “Tổng thời gian giãn tiến độ đầu tư không quá 24 tháng. Trường hợp bất khả kháng thì thời gian khắc phục hậu quả bất khả kháng không tính vào thời gian giãn tiến độ đầu tư”. Tuy nhiên, Luật Đầu tư chưa quy định rõ các trường hợp bất khả kháng, gây khó khăn trong quá trình giãn tiến độ. Mặt khác, theo quy định tại Điều 36, Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015, và Điều 40, Luật Đầu tư 2015 khi thực hiện điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án (dự án thuộc diện Quyết định chủ trương đầu tư) phải thực hiện điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư trước khi điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Tuy nhiên, không quy định rõ thời gian điều chỉnh tiến độ thực hiện dự án tối đa là bao nhiêu tháng. Hơn nữa, thời gian giãn tiến độ 24 tháng đối với một dự án đầu tư là tương đối dài, song thực tiễn trong công tác bồi thường, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng,… của nhiều dự án phải kéo dài đến hơn 24 tháng. Nên việc quy định về giãn tiến độ đầu tư như trên là chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn, ảnh hưởng đến công tác quản lý đầu tư của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, giảm hiệu quả dự án đầu tư.

Theo Luật Đầu tư năm 2014, quy định giãn tiến độ đầu tư chỉ áp dụng “Đối với dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT) hoặc quyết định chủ trương đầu tư,…” và việc điều chỉnh dự án đầu tư được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh GCNĐKĐT. Do đó, đối với các dự án đã thực hiện đầu tư thuộc trường hợp không cần phải cấp GCNĐKĐT (theo Khoản 1 Điều 74 Luật Đầu tư năm 2014, thì Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư được xem như GCNĐKĐT) theo Khoản 2 Điều 45 Luật Đầu tư năm 2005 (được cấp trước ngày Luật Đầu tư năm 2014 có hiệu lực thi hành) hoặc Khoản 2 Điều 74 Luật Đầu tư năm 2014, nay nhà đầu tư có yêu cầu giãn tiến độ đầu tư hoặc điều chỉnh dự án đầu tư thì cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư lại không có cơ sở pháp lý thực hiện.

Khoản 1 Điều 62 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ (Nghị định 118) quy định “Trường hợp điều chỉnh dự án đầu tư làm thay đổi nội dung Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương được cấp trước ngày Luật Đầu tư có hiệu lực thi hành, nhà đầu tư thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 33 Nghị định này tại Cơ quan đăng ký đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư…”. Như vậy, khi được cấp GCNĐKĐT thì “…Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương…” còn giá trị pháp lý hay không? Nếu còn, thì được sử dụng như thế nào? Còn không còn giá trị pháp lý thì có bị thu hồi không? Và cơ quan, cá nhân nào có thẩm quyền thu hồi trong khi hiện nay chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định hay hướng cụ thể.

Theo quy định Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn, điều kiện để chuyển mục đích sử dụng đất, cho thuê đất là phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Trong khi đó, địa điểm thực hiện dự án do nhà đầu tư đề xuất, phát sinh theo thực tế nên thường không có trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, dẫn đến việc phải chờ bổ sung, điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất, mất nhiều thời gian.

Theo Điều 45 Luật Đầu tư năm 2014 và Khoản 2, Khoản 3 Điều 37 Nghị định 118 thì đối với trường hợp chuyển nhượng dự án đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư cấp tỉnh (như Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc Ban Quản lý Khu kinh tế, khu công nghiệp cấp tỉnh) thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng để điều chỉnh GCNĐKĐT hoặc trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với trường hợp điều chỉnh quyết định chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, theo Điều 50, Điều 51 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 và Điểm a Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ thì đối với dự án bất động sản (đô thị mới, phát triển nhà ở), Sở Xây dựng là cơ quan được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ thực hiện việc chuyển nhượng. Đây là một bất cập cần sửa đổi, bổ sung kịp thời, tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước có chức năng quản lý về đầu tư.

Luật Đầu tư quy định lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức Quyết định chủ trương đầu tư, Luật Đất đại quy định hình thức lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức đấu giá và hình thức Quyết định chủ trương đầu tư, Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 của Chính phủ quy định hình thức lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức đấu thầu. Do vậy rất khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện, thực tế hiện nay nhiều dự án không biết áp dụng lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức nào cho phù hợp. Để tháo gỡ khó khăn, vướng nêu trên cũng như việc đồng bộ giữa các luật, đề nghị trong quá trình sửa đổi Luật Đầu tư, cần nghiên cứu quy định cụ thể: (i) Trường nào thì thực hiện đấu giá đất thực hiện dự án đầu tư theo quy định của Luật Đất đai; (ii) Trường hợp nào thì thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án theo quy định về đấu thầu; (iii) Trường hợp nào thì áp dụng hình thức quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư (cử tri tỉnh Quảng Ninh)

Đề nghị chỉnh sửa, đảm bảo thống nhất giữa thời gian dự án không hoạt động với thời gian không sử dụng đất, chậm đưa đất vào sử dụng tại Luật Đầu tư và Luật Đất đai để áp dụng cho thống nhất. Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Luật Đầu tư thì dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động trong trường hợp “sau 12 tháng mà nhà đầu tư không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện dự án theo tiến độ đăng ký với cơ quan đăng ký đầu tư và không thuộc trường hợp được giãn tiến độ thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Điều 46 của Luật này”. Quy định nêu trên chưa thống nhất với quy định tại điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 quy định về các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai, cụ thể: “Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng” (cử tri tỉnh Tuyên Quang)

Về kiến nghị của cử tri tỉnh Kiên Giang

Theo quy định tại khoản 14, Điều 2, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013): “Trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày dự án đầu tư bị chấm dứt hoạt động theo quy định, chủ đầu tư được thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, bán tài sản hợp pháp gắn liền với đất cho nhà đầu tư khác theo quy định của pháp luật”.

Ngày 17/6/2020, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư năm 2020 để thay thế Luật Đầu tư năm 2014 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021, trong đó tại khoản 4 và khoản 5 Điều 48 đã quy định:

“4. Nhà đầu tư tự thanh lý dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về thanh lý tài sản khi dự án đầu tư chấm dứt hoạt động, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.

5. Việc xử lý quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất khi chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Như vậy, vấn đề mà cử tri nêu đã được giải quyết theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020.

Về kiến nghị của cử tri các tỉnh Quảng Bình, Quảng Ninh và Tuyên Quang

Kiến nghị của cử tri liên quan đến một số điểm bất cập giữa Luật Đầu tư và Luật Đất đai. Để khắc phục tình trạng mà cử tri phản ánh, ngày 17/6/2020, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư năm 2020 để thay thế Luật Đầu tư năm 2014 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021), trong đó đã có các sửa đổi bổ sung để đảm bảo sự thống nhất giữa Luật Đầu tư và Luật Đất đai.

Câu số 42. Hiện nay, các dự án đầu tư phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính về các lĩnh vực đầu tư, xây dựng, đất đai, môi trường…; thời gian giải quyết các thủ tục kéo dài. Bên cạnh đó, các Luật liên quan đã ban hành chưa đồng bộ, thiếu thống nhất nên có nhiều khó khăn trong triển khai thực hiện. Đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về đầu tư được quy định tại Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Luật Bất động sản (cử tri tỉnh Hòa Bình)

Về đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về đầu tư được quy định tại Luật đất đai

Trong thời gian qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thường xuyên rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung để trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định liên quan đến việc thực hiện thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Liên quan đến việc liên thông các thủ tục đầu tư, đất đai, tại Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định cụ thể việc sử dụng hồ sơ dự án (hồ sơ đầu vào để chấp thuận chủ trương đầu tư) để tổ chức thẩm định nhu cầu sử dụng đất, điều kiện để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Mặt khác, liên quan đến các thủ tục tiếp cận đất đai, để đảm bảo thống nhất giữa Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, trong thời gian qua Chính phủ đã tổ chức thực hiện các giải pháp sau đây:

Tổ chức xây dựng Luật Đầu tư (sửa đổi) để trình Quốc hội thông qua, trong đó có bổ sung quy định về các hình thức lựa chọn nhà đầu tư (đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất và chấp thuận chủ trương đầu tư); sửa đổi, bổ sung quy định về tiếp cận đất đai để thực hiện dự án phát triển nhà ở thương mại;…;

Ban hành Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu, trong đó quy định cụ thể về việc đấu thầu dự án có sử dụng đất và trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất đối với các trường hợp trúng đấu thầu;

Bên cạnh đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai (Tờ trình số 102/TTr-BTNMT ngày 29/12/2019), hiện nay Chính phủ đang xem xét ban hành. Dự thảo Nghị định đã đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến việc tiếp cận đất đai để thực hiện các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh.

Về đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về đầu tư được quy định tại Luật bảo vệ môi trường

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang triển khai xây dựng Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua vào kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, trong đó đã có các nội dung nhằm đồng bộ hóa với hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, khắc phục các chồng chéo, xung đột pháp luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, toàn diện của hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường. Ngoài ra, dự thảo Luật cũng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tích hợp, giảm số lượng và thời gian thực hiện các thủ tục hành chính; gắn thủ tục đánh giá tác động môi trường, cấp phép môi trường với trình tự thực hiện dự án đầu tư để tạo sự thống nhất, đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

Câu số 63. Luật Lâm nghiệp 2017 và Luật Đất đai 2013 chưa có sự thống nhất giữa các quy định: Tại khoản 1 Điều 135 Luật Đất đai thì Nhà nước giao đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên cho tổ chức quản lý rừng để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Tại Điều 17 Luật Lâm nghiệp thì Nhà nước cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân thuê rừng sản xuất là rừng tự nhiên, rừng sản xuất là rừng trồng trả tiền thuê rừng một lần hoặc hằng năm để sản xuất lâm nghiệp; sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; Kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí. Vì vậy, đề nghị Quốc hội sửa đổi Luật và quy định cụ thể: Thứ nhất, Đối tượng nào thì được giao đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên đảm bảo thống nhất giữa các quy định của Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp như nêu trên. Thứ hai, Tổ chức kinh tế, hộ gia đình cá nhân có được Nhà nước giao đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên hay không? Trình tự, điều kiện để thực hiện thống nhất với thủ tục cho thuê rừng được thực hiện như thế nào. Thứ ba, Trường hợp không được Nhà nước giao đất thì trình tự thực hiện, điều kiện, hình thức giao đất, cho thuê đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên và thủ tục thuê rừng sản xuất là rừng tự nhiên được thực hiện như thế nào.Thứ tư, Luật Lâm nghiệp không quy định giao rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cho tổ chức kinh tế.  Do đó, trình tự, điều kiện thực hiện, hình thức giao đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng và thủ tục thuê rừng được thực hiện như thế nào (cử tri tỉnh Lào Cai)

Tại Điều 1 Luật Đất đai năm 2013 quy định phạm vi điều chỉnh về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tại Điều 1 Luật Lâm nghiệp năm 2017 quy định phạm vi điều chỉnh về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản.

Do phạm vi điều chỉnh tại Luật Lâm nghiệp và Luật Đất đai khác nhau, theo đó Luật Đất đai quy định về giao đất rừng, còn Luật Lâm nghiệp quy định về cho thuê rừng là phù hợp với quy định của pháp luật chuyên ngành, không có sự chồng chéo, mâu thuẫn.

Câu số 94. Để đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội, kiến nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên Môi trường hướng dẫn chi tiết, cụ thể về việc thực hiện “Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm và nghĩa vụ nộp thuế” theo đúng tinh thần Nghị quyết 42/2017/QH14. Vì trong thực tế, khi các bên lập thủ tục chuyển đổi quyền sở hữu, quyền sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ thuế trước khi lập các thủ tục về chuyển nhượng tài sản, nếu không thực hiện thì không thể lập hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu tài sản (cử tri tỉnh Thừa Thiên Huế)

Tại khoản 4 Điều 9 của Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội đã quy định trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường như sau: “Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai; đăng ký thay đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản bảo đảm của khoản nợ có nguồn gốc từ khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.”

Thực hiện nhiệm vụ được Quốc hội giao, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 hướng dẫn Điều 9 Nghị quyết 42/2017/QH14 về quyền nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là tài sản bảo đảm của khoản nợ đã mua của Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

Câu số 97. Theo quy định của pháp luật về đất đai, đối với khu đất của dự án đầu tư có sử dụng đất có xen kẹt tài sản công (gồm tài sản, vật kiến trúc và đất hoặc mặt nước,...) mà theo quy hoạch xây dựng mới thì tài sản công này không còn phù hợp (chuyển công năng sử dụng, mục đích sử dụng đất) hoặc có vị trí không định hình trong tổng thể khu đất thực hiện dự án hoặc chiếm một phần nhỏ trong tổng thể dự án cần thực hiện, sẽ không đủ điều kiện để đấu giá quyền sử dụng đất, mà sẽ lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án theo hình thức đấu thầu quy định tại Nghị định số 25/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 của Chính phủ.

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công thì đối với tài sản công không còn phù hợp với quy hoạch hoặc vì lý do khác phải xử lý nhưng không quy định phương án xử lý theo hình thức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư. Vì vậy, để việc thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất được đảm bảo theo quy định, đề nghị Chính phủ có hướng dẫn cụ thể việc tổ chức lựa chọn nhà đầu tư đối với các dự án đầu tư có sử dụng đất có xen kẹt tài sản công (quy định cụ thể điều kiện để dự án đầu tư có sử dụng đất có xen kẹt tài sản công được phép lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức đấu thầu) (cử tri tỉnh Thanh Hóa)

Liên quan đến việc hướng dẫn tổ chức lựa chọn chủ đầu tư để thực hiện dự án đầu tư thuộc chức năng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã nhận được một số phản ánh liên quan đến nội dung này. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nghiên cứu sửa đổi Điều 16 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai vào dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, trong đó có xử lý nội dung mà cử tri nêu. Nghị định này đã trình Chính phủ xem xét, ký ban hành.

Câu số 106. Theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị định số 135/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ, thì doanh nghiệp hạ tầng chỉ có quyền cho thuê lại theo hình thức trả tiền hằng năm, tuy nhiên hiện nay một số doanh nghiệp hạ tầng vẫn thu tiền một lần đối với doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp hạ tầng tách thành 02 khoản thu là tiền thuê đất thô hằng năm và thu phí sử dụng hạ tầng, điều này làm hạn chế quyền của doanh nghiệp thuê lại đất trong khu công nghiệp thực chất trả tiền một lần cho công ty hạ tầng nhưng chỉ có quyền như hằng năm. Việc thu tiền thuê đất của các doanh nghiệp hạ tầng tách thành 02 khoản thu như vậy, không phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 48 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ. Đề nghị cơ quan chức năng có hướng dẫn thống nhất về vấn đề này (cử tri tỉnh Tây Ninh)

Về kiến nghị của cử tri thuộc trách nhiệm giải quyết của Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và đầu tư. Liên quan đến chức năng quản lý nhà nước của mình, Bộ Tài nguyên và Môi trường xin thông tin đến cử tri như sau:

Tại khoản 2 Điều 149 Luật Đất đai quy định: “Nhà nước cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất. Đối với phần diện tích thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì người được Nhà nước cho thuê đất có quyền cho thuê lại đất với hình thức trả tiền thuê đất hàng năm; đối với phần diện tích thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê thì người được Nhà nước cho thuê đất có quyền cho thuê lại đất với hình thức trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc trả tiền thuê đất hàng năm.”

Tại khoản 2 Điều 210 Luật Đất đai quy định “2. Trường hợp nhà đầu tư được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm để đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp khu chế xuất mà đã cho thuê lại đất có kết cấu hạ tầng theo hình thức trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì phải nộp tiền cho Nhà nước theo quy định của Chính phủ; người thuê lại đất có quyền và nghĩa vụ như được Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê sau khi chủ đầu tư đã nộp đủ tiền thuê đất vào ngân sách nhà nước.”

Câu số 139. Đề nghị công nhận một số cây cổ thụ trên địa bàn xã Gari, huyện Tây Giang, Quảng Nam là cây Di sản Việt Nam (Cử tri tỉnh Quảng Nam)

Việc tuyển chọn, vinh danh “Cây di sản Việt Nam” là hoạt động do Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam thực hiện; không phải là hoạt động chứng nhận, công nhận của cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, đây là hoạt động góp phần bảo tồn nguồn gen tiêu biểu, quảng bá sự phong phú, đa dạng với giá trị khoa học cao của hệ thực vật Việt Nam, do đó Bộ Tài nguyên và Môi trường sẵn sàng phối hợp hỗ trợ địa phương trong quá trình đề xuất công nhận cây di sản.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan