Thứ 5, 03/12/2020 - 17:17
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Xây dựng và thực hiện các chính sách luật về bảo vệ môi trường

Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 99/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW đối với lĩnh vực quản lý môi trường tập trung vào 03 nhóm nhiệm vụ trọng tâm là: hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; Tổ chức thực hiện chấp hành chính sách, pháp luật, các công cụ, biện pháp quản lý và các thủ tục hành chính về môi trường; khoanh vùng, xử lý, cải tạo các khu vực bị ô nhiễm; giám sát vấn đề ô nhiễm môi trường xuyên biên giới.

Về hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; rà soát các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, cam kết, điều ước quốc tế liên quan; nghiên cứu kinh nghiệm quản lý của nhiều quốc gia; đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo tham vấn các đại biểu Quốc hội, các chuyên gia, các Bộ, ngành, địa phương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức quốc tế và các hiệp hội, doanh nghiệp; lấy ý kiến rộng rãi người dân, doanh nghiệp, tổ chức làm việc trực tiếp với một số Bộ để thống nhất nội dung dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) với các luật khác.

Dự án Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi): Đã được Chính phủ trình Quốc hội thảo luận tại Kỳ họp thứ 9. Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các Đại biểu Quốc hội, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ  và Môi trường của Quốc hội chỉnh lý dự thảo Luật, báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội (ngày 12/8/2020), gửi xin ý kiến góp ý của các Đoàn đại biểu Quốc hội. Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) sau khi chỉnh lý theo ý kiến góp ý của các Đoàn đại biểu Quốc hội đã được báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội (ngày 14/10/2020) và trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10.

Ngày 24/10/2020, Quốc hội đã thảo luận tại hội trường về dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi). Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiếp tục phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội và các cơ quan có liên quan chỉnh lý dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) theo ý kiến của các Đại biểu Quốc hội để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 10.

Tổ chức thực hiện chấp hành chính sách, pháp luật, các công cụ, biện pháp quản lý và các thủ tục hành chính về môi trường

Tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, đặt môi trường vào vị trí trung tâm của phát triển bền vững, đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lãnh của Nhân dân, thiết lập hàng rào kỹ thuật quy chuẩn, tiêu chuẩn để bảo vệ môi trường trước thách thức ngày càng lớn của sự gia tăng các nguồn thải, dân số và các vấn đề môi trương xuyên biên giới. Ban hành Bộ chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Chủ động kiểm soát, làm chủ công nghệ giám sát, phòng ngừa ô nhiễm, đảm bảo các dự án lớn tiềm ẩn nguy cơ cao được kiểm soát chặt chẽ, hoạt động an toàn, đóng góp cho tăng trưởng. Các chỉ số về môi trường có sự chuyển biến: tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom xử lý tăng trung bình 6%/năm, nhiều địa phương đã có mô hình xử lý hiệu quả như Nghệ An, Quảng Ninh, Ninh Bình, Quảng Bình, Cần Thơ, điển hình tại Đồng Nai tỷ lệ rác thải chôn lấp còn 43%; tỷ lệ thu gom xử lý chất thải rắn công nghiệp đạt 90%; tỷ lệ tro xỉ được tái sử dụng đạt trên 50%. tỷ lệ KCN, KCX đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 89%; số xã đạt tiêu chí chuẩn nông thôn mới về môi trường tăng 8,3%. Thiết lập hệ thống gần 900 trạm quan trắc kết nối trực tuyến với Bộ Tài nguyên và Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường; có thể theo dõi trên các thiết bị di động, được kết nối với hệ thống điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để theo dõi diễn biến môi trường phục vụ công tác điều hành. Chỉ số về môi trường nước mặt năm 2019 cho thấy chất lượng tại khu vực thượng nguồn đều duy trì khá tốt, chất lượng nước ở các sông ô nhiễm nghiêm trọng như sông Nhuệ đã được cải thiện hơn. Tạo sự chuyển biến từ nhận thức đến hành động trong phòng chống rác thải nhựa.

Trước tình trạng một số lượng lớn phế liệu tồn đọng tại các cảng biển, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã khẩn trương xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 17/9/2018 về một số giải pháp cấp bách tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động nhập khẩu và sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất; ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất[1], bổ sung các quy định đảm bảo kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả hoạt động nhập khẩu phế liệu[2], tổ chức thanh tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu và sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất[3]; trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu; tham mưu Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp xử lý phế liệu tồn đọng. Chỉ đạo triển khai kế hoạch hành động quốc gia về kiểm soát ô nhiễm không khí; BVMT lưu vực sông.

Các địa phương đã thực hiện nghiêm các biện pháp quản lý bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 25/CT-TTg, nâng tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường lên 228 cơ sở, đạt 88,0%, trong đó có 121 khu công nghiệp đầu tư lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục. Đẩy nhanh tiến độ xử lý triệt để của các cơ sở, làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng[4]; có 118 cơ sở xử lý chất thải nguy hại được Bộ cấp phép với công suất xử lý khoảng 1.500 nghìn tấn/năm; xử lý hơn 60 điểm ô nhiễm tồn lưu do hóa chất bảo vệ thực vật, phát hiện mới và kiểm soát chặt chẽ hơn 400 khu vực môi trường bị ô nhiễm do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu; xác định danh mục 160 làng nghề có nguy cơ ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Khoanh vùng, xử lý, cải tạo các khu vực bị ô nhiễm; giám sát vấn đề ô nhiễm môi trường xuyên biên giới

Khắc phục hậu quả chất độc hóa học/Dioxin: Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành địa phương, các tổ chức quốc tế trong việc rà soát, khoanh vùng xử lý các điểm tồn lưu chất độc hóa học, Dioxin. Trong đó:  Tại sân bay Phù Cát Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị của Bộ Quốc phòng chôn lấp an toàn, cô lập 7.500 m3 đất và trầm tích nhiễm dioxin trên diện tích 2,06 ha. Tại khu vực sân bay Đà Nẵng, năm 2006, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài nguyên và Môi trường bắt đầu hợp tác với Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ để điều tra ô nhiễm dioxin. Đến năm 2011, Dự án xử lý môi trường ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng do Bộ Quốc phòng là chủ đầu tư bắt đầu được triển khai và kết thúc năm 2018. Qua hơn 8 năm triển khai, Dự án đã xử lý triệt để khoảng 90.000 m3 đất, bùn nhiễm dioxin và chôn lấp, cô lập khoảng 50.000 m3 đất, bùn nhiễm dioxin dưới 1.000 ppt TEQ vào khu vực được kiểm soát đảm bảo không còn rủi ro phơi nhiễm dioxin tới con người và môi trường. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tích cực phối hợp với Bộ Quốc phòng là đơn vị triển khai triển khai, thực hiện Dự án “Xử lý ô nhiễm dioxin khu vực sân bay Biên Hòa”.

Cải tạo phục hồi môi trường các khu vực ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu:  Ngày 20 tháng 10 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 20 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hoá chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên phạm vi cả nước (sau đây gọi tắt là Kế hoạch), trong đó giao Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đôn đốc và hướng dẫn việc triển khai các nội dung Kế hoạch cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tính đến thời điểm tháng 11/2020 số điểm ô nhiễm phát sinh mới không thuộc Quyết định số 1946/QĐ-TTg theo báo cáo của địa phương là 116 điểm. Trong đó Nghệ An 47 điểm, Hà tĩnh 14 điểm, Quảng Bình 12 điểm; Quảng Trị 12 điểm; Thái Nguyên 3 điểm; Lạng Sơn 3 điểm; Nam Định 5 điểm; Quảng Nam 8 điểm.

Kết quả xử lý, phòng ngừa: Đã xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường được 100/240 điểm (hoàn thành 15 trên 18 tỉnh) theo Quyết định số 1946/QĐ-TTg; 91 điểm tồn lưu không thực hiện xử lý ô nhiễm sau khi điều tra, đánh giá đối chiếu với QCVN 54:2013/BTNMT có nồng độ ô nhiễm thấp hơn giới hạn cho phép (đạt 80% kế hoạch).

 

 

[1] Thông tư số 08/2018/TT-BTNMT và Thông tư số 09/2018/TT-BTNMT ngày 14/9/2018

[2] Trong Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều các Nghị định quy định chi tiết thi hành Luât bảo về môi trường

[3] Thanh tra 75 đối tượng tại 20 tỉnh, thành phố; kết quả đã xử phạt 16 tổ chức vi phạm, chiếm tỷ lệ 26%, phạt tiền là 3,629 tỷ đồng, tước quyền sử dụng giấy xác nhận đối với 3 tổ chức tại Nam Định, Long An và TP Hồ Chí Minh.

[4] Đã có 407/439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg hoàn thành biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để, đạt tỷ lệ 92,71%, 289/435 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg cơ bản hoàn thành các biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để, chiếm tỷ lệ 66,43%


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan