Thứ 4, 06/07/2022 - 14:05
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thực hiện tốt nguyên tắc BVMT là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân

Thực hiện tốt nguyên tắc BVMT là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; phát huy hiệu quả vai trò, sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng, quần chúng nhân dân từ hoạch định chính sách, giám sát thực thi chính sách pháp luật, huy động nguồn lực đầu tư cho BVMT; tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp FDI về ý thức sản xuất, tự giác trong công tác BVMT.

Các nhiệm vụ trọng tâm lĩnh vực quản lý môi trường trong giai đoạn tới là tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về BVMT nhằm thể chế hóa việc thực hiện chủ trương không thu hút đầu tư bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường vì lợi ích kinh tế, kiểm soát nguy cơ phát sinh sự cố môi trường và vấn đề ô nhiễm môi trường xuyên biên giới.

Xây dựng và trình Quốc hội xem xét, thông qua Luật BVMT sửa đổi theo hướng đưa môi trường cùng với kinh tế, xã hội là trung tâm của phát triển bền vững, gắn kết hài hòa với ứng phó BĐKH; chuyển đổi từ mô hình kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên sang mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, ít phát thải các-bon, thân thiện với môi trường; quy định việc kiểm soát các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội theo phân vùng môi trường; phân luồng các dự án đầu tư phát triển theo các tiêu chí về môi trường, kiểm soát chặt chẽ các dự án, hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, tác động xấu nhiều mặt lên môi trường; quy định cơ chế khuyến khích các dự án áp dụng công nghệ tốt nhất hiện có…nhằm đảm bảo gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường sống.

Dự thảo Luật đã được Chính phủ trình Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV và dự kiến sẽ được xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 10. Song song với xây dựng dự thảo Luật, Bộ TN&MT cũng đang khẩn trương xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành nhằm đưa Luật nhanh chóng đi vào đời sống.

Triển khai xây dựng quy hoạch BVMT quốc gia; quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia làm cơ sở phân vùng, định hướng đầu tư, phát triển các ngành kinh tế, đảm bảo phù hợp với sức chịu tải của môi trường. Quy hoạch và phát triển mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia bảo đảm xây dựng hệ thống quan trắc và cảnh báo chất lượng môi trường đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương để giám sát chặt chẽ, cảnh báo chất lượng môi trường trên phạm vi cả nước.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thẩm định, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường. Rà soát, tiếp tục tăng cường cơ chế giám sát về BVMT đối với  các dự án, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây sự cố, ô nhiễm môi trường cao, bảo đảm không để xảy ra sự cố môi trường nghiêm trọng, các dự án, cơ sở này vận hành an toàn về môi trường. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất; tăng cường công tác BVMT các KCN, CCN, làng nghề; rà soát kiên quyết yêu cầu chủ đầu tư các KCN, CCN xây dựng, vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung, buộc các đối tượng có quy mô xả thải lớn lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải, khi thải tự động liên tục theo quy định của pháp luật, truyền số liệu trực tiếp về cơ quan quản lý nhà nước về môi trường để theo dõi, giám sát.

Rà soát, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường theo lộ trình tiến tới năm 2021 áp dụng mức quy chuẩn, tiêu chuẩn tương đương các nước phát triển trong khu vực nhằm thiết lập các hàng rào kỹ thuật duy trì và bảo vệ chất lượng môi trường, đảm bảo sự chủ động đề kháng trước các nguy cơ ô nhiễm môi trường, dịch chuyển công nghệ lạc hậu vào Việt Nam.

Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về BVMT từ Trung ương đến địa phương trong tình hình mới, tiến tới hình thành mô hình quản lý phù hợp để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với BVMT, đặc biệt là tại địa phương. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý môi trường các cấp.

Thiết lập và triển khai có hiệu quả các cơ chế xã hội hóa nhằm huy động tổng lực sự tham gia của toàn xã hội trên cơ sở kết hợp giữa Nhà nước, các tổ chức, giới khoa học, doanh nghiệp và người dân vào công tác BVMT, bảo đảm nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, “người hưởng lợi từ môi trường phải chi trả”. Thúc đẩy phát triển các mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo, sạch, giao thông bền vững về môi trường, khu công nghiệp, đô thị sinh thái, sản xuất, tiêu dùng bền vững, nông nghiệp hữu cơ, bền vững về môi trường,... Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho BVMT thông qua việc tăng cường vai trò điều phối, phân bổ chi ngân sách, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm. 

Áp dụng hệ thống các tiêu chí đánh giá, sàng lọc, lựa chọn ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường. UBND các tỉnh, thành phố phải đề cao ý thức trách nhiệm của người đứng khi lựa chọn dự án và nhà đầu tư trên cơ sở xem xét hài hòa lợi ích địa phương và lợi ích quốc gia, mời đội ngũ chuyên gia giỏi để tư vấn trong quá trình thẩm định, khắc phục tình trạng cấp phép khi chưa có đủ căn cứ, nguồn lực, dẫn đến khá nhiều dự án không có tính khả thi. Ban hành các quy định về phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường. Khoanh vùng các đối tượng chính gây ra những vấn đề môi trường bức xúc để chủ động kiểm soát chặt chẽ. Tăng cường đầu tư hệ thống quan trắc và cảnh báo môi trường tại các vùng kinh tế trọng điểm, khu tập trung nhiều nguồn thải và khu vực nhạy cảm về môi trường; chủ động nắm bắt và giải quyết, xử lý kịp thời các vấn đề môi trường phát sinh; ứng phó, xử lý, khắc phục các sự cố, vụ việc gây ô nhiễm môi trường.

Tận dụng có hiệu quả các thành tựu về khoa học công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trong công tác quản lý môi trường; trọng tâm là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách hành chính, đồng bộ hóa, hiện đại hóa hệ thống thông tin, dữ liệu về môi trường. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ có hiệu quả sự hỗ trợ của quốc tế trong công tác BVMT; nghiên cứu, kiến nghị cơ chế cử cán bộ đại diện ngoại giao về môi trường tại các nước.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan