Thứ 5, 30/06/2022 - 12:06
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ

Để đáp ứng tốt yêu cầu và xu thế của thực tiễn, khơi thông và tiếp nhận kịp thời các nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời tạo tiền đề cho việc hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này, việc ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ trước khi ban hành áp dụng rộng rãi trên toàn quốc là rất cần thiết.

Tính đến năm 2018, có 52 sáng kiến định giá khí thải CO2 đã được triển khai hoặc dự kiến sẽ được thực hiện ở 46 quốc gia. Các sáng kiến này được dự kiến sẽ bù đắp được 11 tỷ tấn CO2, chiếm 19,5% lượng khí thải toàn cầu, với tổng giá trị trên 79 tỷ USD. Hiện nay có hai cách tiếp cận để định giá khí thải CO2, là cơ chế thuế các-bon và cơ chế thương mại các-bon. Trong đó, cách tiếp cận thứ hai được cho là phù hợp với các nước chưa có thị trường các-bon, hoặc khó tiếp cận với thị trường các-bon, như Việt Nam. 

Để giảm phát thải khí nhà kính, có thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau trong đó biện pháp được đánh giá hữu hiệu hiện nay là tăng cường khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng thông qua bảo vệ rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng và trồng rừng là giải pháp quan trọng, phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA) đã được ký vào ngày 22/10/2020 tại Hà Nội, giữa Bộ Nông nghiệp và PTNT với tư cách là Cơ quan thực hiện Chương trình và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD) với tư cách là Bên được ủy thác của Quỹ Đối tác Các-bon Lâm nghiệp (FCPF). Việc ký kết này được thực hiện theo Văn bản số 2471/VPCP-HTQT ngày 31/3/2020 của Văn phòng Chính phủ về chủ trương đàm phán ERPA với IBRD. ERPA nhằm chuyển nhượng lượng giảm phát thải 10,3 triệu tấn các-bon đi-ô-xít tương đương (CO2e) ở 06 tỉnh vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2018-2025 cho FCPF, với tổng số tiền là 51,5 triệu đô la Mỹ. ERPA gồm Điều khoản chung và Điều khoản thương mại. Điều khoản chung (18 Điều và 3 Phụ lục) gồm các quy tắc và quy định chung (đã được FCPF thống nhất tại Hội nghị các quốc gia thành viên họp tại Tanzania (năm 2014) được áp dụng cho tất cả quốc gia tham gia ERPA. Điều khoản thương mại (10 Điều và 5 Phụ lục) gồm các điều kiện cụ thể được hai bên cùng đàm phán để thống nhất và ký. Điều khoản thương mại gồm Nhánh A và Nhánh B. Nhánh A nhận chuyển nhượng khoảng 5% tổng lượng giảm phát thải, tương đương khoảng 0,51 triệu tấn CO2e và lượng giảm phát thải bổ sung (nếu có). Nhánh B nhận chuyển nhượng khoảng 95% lượng giảm phát thải, tương đương khoảng 9,79 triệu tấn CO2e; lượng giảm phát thải này cùng lượng bổ sung (nếu có) sẽ được chuyển giao lại cho Việt Nam để sử dụng cho mục đích đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Thời điểm chuyển giao lại cho Việt Nam được xác định sau khi hoàn thành ERPA.

Hai điều kiện hiệu lực cần được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ban hành trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày ký ERPA (22/10/2020) để việc chuyển nhượng và thanh toán giảm phát thải được thực thi như quy định tại Điều III và Điều V của Điều khoản thương mại, gồm: quy định về chuyển nhượng kết quả giảm phát thải; quy định về quản lý tài chính Thỏa thuận chi trả giảm phát thải (trong thỏa thuận ERPA là Kế hoạch chia sẻ lợi ích). Theo ERPA, kết quả giảm phát thải được xác định chung cho cả vùng Bắc Trung Bộ. Nghĩa là, cả vùng Bắc Trung Bộ là một đơn vị tính toán kết quả để chuyển nhượng lượng giảm phát thải cho IBRD; còn việc tính toán lượng giảm phát thải cho từng tỉnh là để thanh toán dựa trên kết quả thực hiện ở tỉnh đó. - IBRD sẽ thực hiện chi trả dựa trên báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT về kết quả giảm phát thải theo 03 giai đoạn: 2018-2019; 2020-2022 và 2023- 2024. Việc chi trả được xác định sau khi IBRD tiến hành thẩm định kết quả theo từng kỳ báo cáo. Thẩm định xong kỳ báo cáo nào, chi trả cho kỳ báo cáo đó. Việt Nam không tạm ứng để thực hiện ERPA. Vì vậy, giảm thiểu được rủi ro đối với quá trình giải ngân. Đồng thời cũng cho thấy, kết quả thực hiện 6 năm (2018- 2024) chủ yếu là do nỗ lực của Việt Nam đầu tư cho các hoạt động REDD+ từ ngân sách nhà nước, các dự án ODA và từ các nguồn lực xã hội hóa được thực hiện ở 6 tỉnh Bắc Trung Bộ. 

Theo báo cáo giảm phát thải quốc gia do Bộ Tài nguyên và Môi trường gửi UNFCCC (2021), tiềm năng giảm phát thải từ rừng của Việt Nam đạt khoảng 57 triệu tấn/năm. Vì vậy, nếu thương mại hóa được lượng giảm phát thải này, sẽ có ý nghĩa lớn trong việc huy động nguồn lực hỗ trợ công tác bảo vệ và phát triển rừng. Mặc dù vậy, về mặt pháp lý, hiện nay còn một số vướng mắc trong việc thương mại hóa các-bon, như: chưa có quy định cụ thể về việc chuyển nhượng kết quả giảm phát thải cũng như quản lý tài chính đối với nguồn thu này. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, để đáp ứng tốt yêu cầu và xu thế của thực tiễn, khơi thông và tiếp nhận kịp thời các nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời tạo tiền đề cho việc hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này, việc ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ trước khi ban hành áp dụng rộng rãi trên toàn quốc, là rất cần thiết


Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan