Chủ nhật, 03/07/2022 - 06:27
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước diễn ra ở nhiều nơi

Vấn đề ô nhiễm nước đang là thách thức đối với cần giải quyết trong giai đoạn quy hoạ, đặc biệt trên các lưu vực sông Hồng, Đồng Nai, sông Hương, 

Ô nhiễm nguồn nước

Tại lưu vực sông Hồng: Tình trạng ô nhiễm nguồn nước trên các lưu vực sông Hồng xảy ra chủ yếu trên các nguồn nước liên quốc gia như sông Thao, sông Đà, sông Lô, sông Gâm, sông Chảy, Nậm Thi,…có nguy cơ bị ô nhiễm từ nước ngoài chảy vào và trên các sông qua các khu đô thị, khu dân cư tập trung như sông Nhuệ - Đáy, Cầu, Ngũ Huyện Khê, cụ thể:

Lưu vực sông Cầu: một số điểm ô nhiễm như: (i) đoạn sông Cầu chảy vào thành phố Thái Nguyên, chịu tác động tổng hợp của nhiều nguồn thải (nước thải SH Tp Thái Nguyên, nước thải sản xuất từ Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ và nhà máy gang thép Thái Nguyên); (ii) đoạn sông Cầu chảy qua Bắc Ninh, Bắc Giang do chịu tác động rất lớn từ nước thải CN, làng nghề, dân sinh; (iii) sông Ngũ Huyện Khê cũng là một trong những nguồn chính gây ô nhiễm môi trường nước sông Cầu, đây là nơi tiếp nhận nước thải của các cơ sở sàn xuất làng nghề tái chế kim loại Châu Khê; làng nghề gỗ mỹ nghệ Hương Mạc, Phù Khê, Đồng Quang, thị xã Từ Sơn; làng nghề tái chế giấy Phú Lâm, huyện Tiên Du. Vào thời điểm cuối mùa khô (tháng III hàng năm), tại các khu vực cầu Song Thát, Văn Môn, cầu Lộc Hà, cầu Đào Xá, nước sông thường bị ô nhiễm nặng; (iv) và điểm ô nhiễm phát sinh tại khu vực suối Bóng Tối (tỉnh Thái Nguyên), nguyên nhân do ảnh hưởng của nhà máy thép và nước thải SH của thành phố Thái Nguyên.

Lưu vực sông Nhuệ - Đáy: Nước sông Nhuệ qua địa phận Hà Nội xảy ra ô nhiễm bởi hợp chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng do tiếp nhận nước thải SH, SX của quận Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm và Hà Đông, nước thải từ các cơ sở sản xuất và một số làng nghề như lụa Vạn Phúc, miến Cự Đà... Sau khi tiếp nhận nước của sông Tô Lịch (vận chuyển nước thải từ các quận nội thành Hà Nội), sông Nhuệ chảy qua địa bàn các huyện Thường Tín, Phú Xuyên; rồi chảy qua tỉnh Hà Nam (sông Châu Giang), chất lượng nước vẫn duy trì ở mức kém trong mùa khô. Các sông nội thành Hà Nội (sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Lừ, sông Sét) là các điểm nóng ô nhiễm môi trường trên lưu vực sông Nhuệ -Đáy, mặc dù trong giai đoạn 2016-2020, thành phố Hà Nội đã có nhiều công trình, dự án, đề án bảo vệ, cải thiện môi trường nước các sông nội thành, mức độ ô nhiễm môi trường đã có xu hướng giảm. Trên dòng chính sông Đáy, khu vực thượng nguồn (đoạn chảy qua nội thành Hà Nội), nước sông bị ô nhiễm nặng do chịu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất và dân sinh trên địa bàn.Ngoài ra, các vấn đề ô nhiễm do nước thải từ CN, các làng nghề đang hình thành và phát triển như: KCN Đông Bắc Hà Nội, Nam Thăng Long, Bắc Thăng Long, Sóc Sơn, Hoà Lạc, Đồ Sơn, Nomura - Hải Phòng, Đình Vũ, Minh Đức...; làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên), nghề thuộc da, làm miến dong ở Hà Nội; các làng nghề Phong Khê, Dương Ổ - Phú Lâm, Phúc Xuyên, Đai Hội, Đồng Kỵ...(Bắc Ninh) cũng là vấn đề về ô nhiễm cần đặc biệt quan tâm.

Lưu vực sông Đồng Nai: Ô nhiễm tập trung chủ yếu ở khu vực hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai nơi tiếp nhận nước thải từ các khu đô thị, KCN, các cơ sở sản xuất kinh doanh. Chất lượng nước sông Đồng Nai có xu hướng giảm khi chảy qua địa phận TP. Hồ Chí Minh (Bến phà Cát Lái), nhiều khu vực chất lượng nước chỉ đạt mức trung bình, đã ghi nhận nước sông bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ và chất dinh dưỡng. Một số vị trí thuộc khu vực hạ lưu sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ vẫn bị ô nhiễm cục bộ, đặc biệt là khu vực nội đô Thành phố Hồ Chí Minh, các điểm quan trắc tại cầu Ông Buông (kênh Tân Hóa - Lò Gốm), cầu Chữ Y (kênh Tàu Hũ - Bến Nghé), cầu An Lộc (kênh Tham Lương - Bến Cát - Vàm Thuật) và cảng Phú Định (sông Chợ Đệm) chất lượng nước vẫn ở mức xấu. Nguyên nhân ô nhiễm do chịu tác động bởi lượng lớn nước thải SH từ các khu dân cư và các cơ sở sản xuất nằm dọc lưu vực (các quận: 8, Tân Bình, Tân Phú, 12, Gò Vấp, Bình Thạnh và huyện Bình Chánh). Trên sông Vàm Cỏ và các phụ lưu, hầu hết chất lượng nước chỉ đạt mức trung bình, một số nơi như cảng Phú Định có tàu phà qua lại đông đúc và bến đò Tân Thanh chất lượng nước bị suy giảm ở mức kém, thậm chí là ô nhiễm nặng. Ngoài ra, tình trạng xâm nhập mặn tại cửa sông Vàm Cỏ có xu hướng tăng trong những năm gần đây đã gây tác động xấu tới chất lượng nước và ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt, sản xuất của người dân.

Lưu vực sông Hương: hiện tượng ô nhiễm từ đoạn bắt đầu vào thành phố Huế cho đến khi đổ vào phá Tam Giang ở cửa đập Thảo Long. Nguyên nhân do đoạn đi qua thành phố Huế, nước sông Hương đã tiếp nhận các chất thải, nước thải từ sinh hoạt của dân cư ven bờ, của các cơ sở kinh doanh, sản xuất, thương mại. Sông Ngự Hà, thoát nước cho khu vực nội thành nay đang bị biến thành ao, tù đọng, ô nhiễm. Nguyên nhân do dự án cải thiện hệ thống thoát nước kinh thành Huế đột ngột dừng thi công khiến cho dòng chảy sông nhỏ; mặt khác do tiếp nhận trực tiếp nước thải sinh hoạt của các hộ dân sống xung quanh.

Tình trạng ô nhiễm, suy giảm nguồn nước  và gia tăng xâm nhập mặn đang diễn ra ở hạ lưu một số lưu vực như sông Mã, sông Cả, sông Hương, Vu Gia -Thu Bồn với nguyên nhân do việc vận hành chưa hợp lý các công trình hồ chứa phía thượng lưu gây ra:

Lưu vực sông Mã: Tình trạng xâm nhập mặn chủ yếu xuất hiện ở tiểu vùng hạ lưu sông Mã và tiểu vùng sông Chu. Do ảnh hưởng của thủy triều mặn đã xâm nhập sâu vào nội vùng có thể cách cửa biển khoảng (28-30)km, có thể do suy giảm dòng chảy phía thượng nguồn, điều tiết các công trình không hợp lý, cần có giải pháp để giảm thiểu xâm nhập mặn.

Lưu vực sông Cả: Xâm nhập mặn ở hạ lưu sông Cả đã xâm nhập sâu vào cửa sông cách cửa biển khoảng 32km với độ mặn trung bình từ 1,0¸1,5‰ có thể do suy giảm dòng chảy phía thượng nguồn, điều tiết các công trình không hợp lý, cần có giải pháp để giảm thiểu xâm nhập mặn.

Lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn: Xâm nhập mặn vùng cửa sông ven biển thuộc hạ lưu của lưu vực sông Vu Gia và lưu vực sông Thu Bồn, đặc biệt đối với các năm khô hạn cực đoan. Mức độ nhiễm mặn phụ thuộc vào chế độ thủy triều và dòng chảy trong song, biên mặn ngọt lớn nhất cách cửa sông từ 10 đến 27 km. Việc vnaj hành các hồ chứa thượng lưu đã và đang làm thay đổi chế độ dòng chảy sông, làm gia tăng xâm nhập mặn tại khu vực cửa sông Thu Bồn và kéo dài đến tận sông Vu Gia tại khu vực Cầu Đỏ.

Lưu vực sông Trà Khúc:  Đoạn sông Trà Khúc từ sau đập Thạch Nham tuy không tiếp nhận các nguồn thải trực tiếp từ các hoạt động CN và khu tập trung đông dân cư mà chủ yếu các nguồn thải phân tán do hoạt động nông nghiệp và dân cư nông thôn nằm trong khu tưới hai bên sông của hệ thống thủy lợi Thạch Nham theo nước hồi quy chảy vào sông Trà Khúc. Đặc biệt khu vực ô nhiễm là đoạn sông chảy qua thành phố Quảng Ngãi chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ các nguồn gây ô nhiễm tập trung và phân tán do tiếp nhận nước thải của Tp Quảng Ngãi (bờ phải), TT Sơn Tịnh (bờ trái) và của hai KCN tập trung lớn (KCN Quảng Phú - TP Quảng Ngãi và KCN Tịnh Phong – thị trấn Sơn Tịnh). Ngoài nguyên nhân ô nhiễm từ các nguồn thải thì tác động từ việc vận hành chưa hợp lý, hiệu quả hệ thống đập Thạch Nham gây suy giảm dòng chảy về hạ du cũng góp phần làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm.

Lưu vực sông Ba: Tại khu vực thượng lưu sông Ba, phía hạ lưu thủy điện An Khê thuộc các huyện Krong Pa, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai đã xuất hiện tình trạng ô nhiễm. Nguyên nhân do nguồn nước trong sông suy giảm khi thủy điện An Khê – Ka Nak chặn dòng, chuyển nước phát điện chưa phù hợp gây suy giảm dòng chảy hạ du sông Ba và kết hợp việc các nhà máy chế biến tinh bột sắn, chế biến gỗ, mía đường xả nước thải có chứa nhiều chất hữu cơ khiến cho dòng sông bị ô nhiễm. Ngoài ra việc vận hành chưa hợp lý, hiệu quả hệ thống đập Đồng Cam đang gây suy giảm dòng chảy về hạ du và gia tăng tình trạng ô nhiễm.

 Suy giảm nguồn nước

Hạ thấp mực nước trên dòng chính một số lưu vực sông trong thời gian qua là vấn đề hết sức lo ngại. Những năm gần đây, mức độ hạ thấp lòng dẫn sông Hồng đang ngày càng nghiêm trọng. Mực nước trên hệ thống sông Hồng nói chung và tại trạm thủy văn Sơn Tây nói riêng liên tục giảm từ năm 2000 trở lại đây (tốc độ giảm trung bình 0,1m/năm tại trạm Sơn Tây), theo đánh giá thì việc hạ thấp mực nước tại Sơn Tây chưa có dấu hiệu dừng lại. Trước đây để duy trì mực nước trên toàn hệ thống bảo đảm các hệ thống lấy nước hoạt động bình thường thì cần duy trì dòng chảy về hạ du khoảng 1.200 m3/s-1.500 m3/s, hiện nay, do lòng dẫn sông bị hạ thấp dẫn đến phải duy trì lưu lượng khoảng trên 3.000 m3/s về hạ du thì mới đủ đầu nước để lấy nước vào các hệ thống thủy lợi phục vụ tưới, cấp nước. Các nhà máy thủy điện: Hòa Bình, Tuyên Quang, Thác Bà đã phải xả nước gia tăng để đảm bảo mức nước ở Hà Nội, đảm bảo lấy nước sản xuất nông nghiệp, giao thông thủy. Tuy nhiên, việc xả nước hồ thủy điện đang tạo ra áp lực cho địa phương trong việc bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống chân kè sông Hồng, sông Đà,… Thực tế những năm qua, do xả nước (nhất là vào mùa lũ) nên mực nước sông Hồng lên nhanh và rút nhanh đã gây ra nhiều sự cố sạt lở bờ sông, chân kè,… Lượng cát khai thác ở hạ du đã lên đến gần hai chục triệu m3/năm, gấp 4 lần lượng cát giữ lại trên hồ, gấp 3 lần lượng cát về hạ du hàng năm sau khi có hồ. Ảnh hưởng của việc hạ thấp mực nước không chỉ khiến cho nhiều công trình lấy nước của Hà Nội như các trạm bơm Phù Sa, Ấp Bắc, Thanh Điềm, Đan Hoài,… các cống Liên Mạc, Cẩm Đình, Long Tửu, Xuân Quan không thể vận hành, hoặc hiệu suất vận hành rất thấp làm giảm năng lực hệ thống của công trình thủy lợi, tạo ra nguy cơ hạn hán trong sản xuất nông nghiệp mà còn là thách thức của nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội như ảnh hưởng đến việc lấy nước tưới 600.000ha sản xuất nông nghiệp của vùng Đồng bằng Bắc Bộ, ảnh hưởng đến hoạt động giao thông đường thủy, gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn và sụt lún đất. Việc hạ thấp mực nước sông Hồng sẽ khiến cho nhiều dòng sông trên địa bàn thành phố, như: Nhuệ, Đáy… tiếp tục bị cạn kiệt, ô nhiễm vì thiếu dòng chảy.

Tình trạng hạ thấp mực nước trên còn xuất hiện tại một số lưu vực sông khác như hạ lưu sông Cả, hạ lưu đập Đồng Cam trên lưu vực sông Ba, hạ lưu sông Vu Gia và lưu vực sông Trà Khúc,... ảnh hưởng lớn đến việc lấy nước cho các hoạt động sản xuất, đặc biệt là nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực. 

Vận hành các công trình khai thác, sử dụng nước trên sông chưa hợp lý, hiệu quả gây suy giảm dòng chảy hạ du cụ thể như hồ Cửa Đạt, đập Bái Thượng trên sông Mã, đập Đô Lương, cống Nam Đàn trên sông Cả, đập Thạch Nham trên sông Trà Khúc.

Việc vận hành chuyển nước của các hồ chứa giữa các lưu vực sông chưa thực hiện theo quy định gây suy thoái dòng chảy hạ du, cụ thể: hồ Đăk Mi 4 trên sông Thu Bồn, hồ Thượng Kon Tum trên sông Sê San, việc chuyển nước sang Ninh Thuận, Bình Thuận qua hồ Đơn Dương, hồ Đại Ninh, từ sông Bé sang sông Sài Gòn (từ hồ Phước Hòa sang Dầu Tiếng); từ hồ Dầu Tiếng sang sông Vàm Cỏ....

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan