Chủ nhật, 03/07/2022 - 06:09
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Dự báo tác động của rủi ro thiên tai và BĐKH đến tài nguyên nước trong thời kỳ quy hoạch

Nước ta là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, trong đó tài nguyê nước sẽ chịu những ảnh hưởng lớn nhất và sớm nhất do những diễn biến bất thường về, nhiệt độ, bốc hơi, lượng mưa và nước biển dâng.

Tác động đến dòng chảy trên các lưu vực sông

Trên cơ sở kịch bản BĐKH RCP 4.5 và với xu thế biến đổi lượng mưa trong những năm tới, đã làm thay đổi diễn biến dòng chảy thời kỳ 2021-2030 so với thời kỳ 1980-2020, dòng chảy trung bình năm của hầu hết các lưu vực sông có xu thế tăng từ 2-18%. Tuy nhiên, tăng dòng chảy chủ yếu tập trung vào các tháng mùa lũ, vào các tháng mùa kiệt, tháng kiệt nhất lại có xu thế giảm. Điều này dẫn đến gia tăng mưa lũ trong mùa mưa, thiếu hụt nguồn nước trong mùa khô trên các lưu vực sông, đặc biệt là các khu vực thường xuyên xảy ra mưa lũ hoặc thiếu nước vào mùa khô hiện nay, cụ thể:

Vấn đề gia tăng dòng chảy trong mùa lũ sẽ tác động rất lớn đến mức độ lũ lut, ngập úng hiện nay trên cả nước. Tác động BĐKH đến dòng chảy mùa lũ rất khác nhau giữa các lưu vực sông trên cả nước, dòng chảy mùa lũ trên các lưu vực sông thời kỳ 2021-2030 biến động khá lớn tăng trung bình từ 1-40% so với thời kỳ 1980-2020.

Vấn đề giảm dòng chảy trong mùa cạn sẽ tác động rất lớn đến khả năng khai thác, sử dụng nước, đặc biệt là khu vực trong những năm qua thường xuyên hạn hán, thiếu nước như Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và ĐB sông Cửu Long. Sự suy giảm dòng chảy mùa cạn trên các lưu vực sông thời kỳ 2021-2030 biến động khá lớn giảm trung bình từ 1-40% so với thời kỳ 1980-2020.

Như vậy, một số các lưu vực sông vừa có sự gia tăng dòng chảy mùa lũ và giảm dòng chảy trong mùa cạn, càng làm cho việc lũ lụt, sạt lở đất, ngập lụt và hạn hán thiếu nước diễn ra ngày càng khốc liệt hơn, tập trung mạnh nhất ở hai khu vực sản xuất lúa gạo và sản phẩm thủy sản chủ yếu của cả nước là vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Các biến động này đã, sẽ gây ra các hiện tượng thủy văn cực đoan như lũ lụt và hạn hán và làm biến đổi chế độ dòng chảy trong cả mùa mưa và mùa khô. BĐKH sẽ ảnh hưởng đến cán cân nguồn nước, làm cho tình trạng phân bố nguồn nước không đồng đều giữa mùa khô và mùa mưa ngày càng thêm trầm trọng. Hậu quả là lũ lụt và hạn hán xuất hiện với tần suất và mức độ khốc liệt ngày càng tăng. Lũ lớn và hạn hán gây thiệt hại về nhân mạng và tài sản, làm sạt đất, xói bờ, xâm thực ven biển và mặn ngày càng xâm nhập vào sâu.

Nước biển dâng

Theo kịch bản RCP4.5 đến giữa thế kỷ, mực nước biển Đông dâng khoảng 24 cm (16-32 cm). Đến cuối thế kỷ mực nước biển dâng khoảng 56 cm (38-78 cm). Với kịch bản RCP8.5 đến giữa thế kỷ, mực nước biển dâng khoảng 28 cm (20-37 cm). Đến cuối thế kỷ, mực nước biển dâng khoảng 87 cm (61-119 cm) tác động lớn đến TNN như nguy cơ ngập lụt do triều cường, xâm nhập mặn sâu trên các sông làm nguy cơ thiếu hụt nguồn nước ngọt ở vùng cửa sông, cụ thể:

Tác động làm gia tăng nguy cơ ngập lụt hạ du các lưu vực sông

Kịch bản BĐKH và Nước biển dâng cho Việt Nam đã đánh giá nguy cơ ngập cho các tỉnh, thành phố ven biển theo các mực nước biển dâng 50cm, 60cm, 70cm, 80cm, 90cm và 100cm. Trong đó, nếu mực nước biển dâng 100 cm, nguy cơ ngập của các tỉnh, thành phố ven biển là: Quảng Ninh (4,79%), TP. Hải Phòng (30,2%), Thái Bình (50,9%), Nam Định (58,0%), Ninh Bình (23,4%), Thanh Hóa (1,43%), Nghệ An (0,51%), Hà Tĩnh (2,12%), Quảng Bình (2,64%), Quảng Trị (2,61%), Thừa Thiên-Huế (7,69%), TP. Đà Nẵng (1,13%), Quảng Nam (0,32%), Quảng Ngãi (0,86%), Bình Định (1,04%), Phú Yên (1,08%), Khánh Hòa (1,49%), Ninh Thuận (0,37%), Bình Thuận (0,18%), Bà Rịa-Vũng Tàu (4,79%), TP. Hồ Chí Minh (17,8%), Long An (27,21%), Tiền Giang (29,7%), Bến Tre (22,2%), Trà Vinh (21,3%), Vĩnh Long (18,83%), Đồng Tháp (4,64%), An Giang (1,82%), Kiên Giang (76,9%), Cần Thơ (20,52%), Hậu Giang (80,62%), Sóc Trăng (50,7%), Bạc Liêu (48,6%) và Cà Mau (57,7%). Nhìn chung các tỉnh, thành phố ven biển vùng khí hậu Nam Bộ có nguy cơ bị ngập lụt do nước biển dâng nhiều nhất (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2016).

Tác động làm gia tăng nguy cơ xâm nhập mặn lấn sâu vào đất liền: Bên cạnh tác động làm gia tăng nguy cơ ngập lụt hạ du, suy giảm tài nguyên đất của các lưu vực. Sự gia mực nước biển trong tương lai sẽ làm mặn lấn sâu vào đất liền gây nhiều khó khăn cho công tác khai thác, sử dụng nguồn nước vốn đã hạn chế trong mùa cạn nay sẽ càng khốc liệt hơn. Theo kết quả tính toán, tổng hợp của Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và BĐKH thực hiện cho kịch bản BĐKH của Việt Nam. Mức độ gia tăng, xâm lấn ranh mặn vào đất liền như sau:

Đối với các sông thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ gồm sông Hồng-Thái Bình, sông ven biển Quảng Ninh và các sông nhỏ khác cho thấy khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất trên các sông đều tăng so với thời kỳ cơ sở. Đối với đỉnh mặn 1‰, khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất trên các sông tăng mạnh dần qua các thời kỳ 2016-2035 (tăng từ 0,08 km trên sông Cấm đến 2,28 km trên sông Lạch Tray), thời kỳ 2046-2065 tăng 0,63 km trên sông Đá Bạch đến 7,11 km (sông Lạch Tray) và đến cuối thế kỷ tăng từ 0,62 km (sông Cấm) đến 7,27 km (sông Luộc). Đối với sông Ninh Cơ, đỉnh mặn đều vượt 1%o trên toàn bộ sông ở tất cả các thời kỳ.

Đối với đỉnh mặn 4‰, khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất trên các sông cũng tăng mạnh qua các thời kỳ 2016-2035, 2046-2065 và 2080-2099. Trên sông Hồng, khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất tăng dần qua các thời kỳ, tăng từ 18,86 km (thời kỳ 2016-2035) đến 21,48km (thời kỳ 2080-2099). Sông Thái Bình tăng từ 0,85 km (thời kỳ 2016-2035) đến 3,10 km (thời kỳ 2080-2099).

Các sông thuộc vùng Bắc Trung Bộ: trên lưu vực sông Mã, khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất tính đến năm 2050 và 2100 đều tăng so với hiện trạng đối với đỉnh mặn 4‰. Trên sông Mã khoảng cách này tăng từ 5,2 km (đến năm 2050) đến 13,5 km (năm 2100). Trên sông Lèn, khoảng cách này đến năm 2050 tăng 4,4 km và đến năm 2100 thì toàn bộ sông Lèn có thể bị nhiễm mặn trên 4‰.

Trên lưu vực sông Cả, Nhật Lệ: trong điều kiện nước biển dâng thêm khoảng 22-35 cm vào giữa thế kỷ (2050) thì mức độ nhiễm mặn tại các vùng cửa sông của hai lưu vực sông Cả và sông Nhật Lệ đều tăng thêm khoảng 2%o so với hiện tại. Ranh giới mặn 1%o sẽ tiến sâu vào trong sông thêm khoảng 2-3km. Vào cuối thế kỷ, khi mực nước biển dự tính tăng thêm khoảng 60-80 cm, thì độ mặn sẽ càng khốc liệt hơn so với hiện tại. Ranh giới mặn 1%o trên lưu vực sông Cả sẽ tiến sâu vào trong sông khoảng 40 km tính từ Cửu Hội, lên đến xã Liên Minh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh và các xã Nam Phúc, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Trên lưu vực sông Nhật Lệ thì ranh giới độ mặn 4‰ sẽ lên đến công ngăn mặn Mỹ Trung trên nhánh Kiến Giang. Trên nhánh sông Long Đại thì ranh giới độ mặn 1‰ sẽ lến đến cầu đường sắt, khu vực xã Trường Xuân của huyện Quảng Ninh.

Các sông thuộc vùng Nam Trung Bộ: khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất trên các sông thuộc lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn có khả năng giảm ở một số sông phía bắc (Thanh Quýt, Vĩnh Điện, Bà Rèn, Thu Bồn) và tăng ở các sông phía nam (La Thọ, Quá Giáng, Vu Gia, Tam Kỳ, Trường Giang). Trên lưu vực sông Trà Khúc – Vệ, khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất có khả năng gia tăng ở tất cả các sông phía Bắc, trong đó, tăng mạnh nhất trên sông Trà Bồng và tăng ít nhất trên sông Vệ. Khoảng cách xâm nhập mặn trên các sông thuộc lưu vực sồng Trà Khúc – Vệ tính đến giữa thế kỷ tăng từ 1,05-1,3 km với đỉnh mặn 1%o và tăng từ 0,5-1,15km ứng với mặn 4‰. Đến cuối thế kỷ có thể tăng từ 1,55-1,67 km ứng với mặn 1%o và 1,55-2,0 km ứng với mặn 4‰.

Các sông thuộc vùng Nam Bộ: Khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất trên các sông thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long và sông Đồng Nai có khoảng cách xâm nhập mặn lớn nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 tăng từ 4,6-7,1 km ứng với đỉnh mặn 1%o và tăng từ 4,2-6,8 km ứng với đỉnh mặn 4‰, đến năm 2050 có thể tăng từ 8,8-9,9 km ứng với đỉnh mặn 1‰ và tăng từ 8,4-9,5 km ứng với đỉnh mặn 4%o. Trên sông Vàm Cỏ đến năm 2030 tăng khoảng 4,6 km ứng với đỉnh mặn 1‰ và khoảng 4,2 km đối với đỉnh mặn 4‰. Đến năm 2050, có thể tăng lên 9,3 km đối với đỉnh mặn 1%o và 9,0 km đối với đỉnh mặn 4‰. Theo một số tính toán, dự báo ứng với mực nước biển dâng như công bố, đến năm 2030 sẽ có khoảng 45% diện tích tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị nhiễm mặn.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan