Thứ 7, 28/05/2022 - 08:46
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Ngành TN&MT triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Chương trình hành động của Ngành TN&MT thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP, NQ02/NQ-CP yêu cầu các đơn vị trực thuộc Bộ, Sở TN&MT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nâng cao tinh thần trách nhiệm, tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả 04 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.

Một là, xây dựng đồng bộ các chủ trương, chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch để quản lý, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn tài nguyên cho phát triển, giải quyết hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. 

Tổng kết đánh giá việc thực hiện các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị về tài nguyên và môi trường; trong năm 2021 thực hiện Tổng kết Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoảng sản và Luật khoáng sản. 

Tổng kết, sơ kết đánh giá tình hình thi hành chính sách pháp luật về đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, quản lý tổng hợp biển và hải đảo, đa dạng sinh học để sửa đổi, bổ sung phù hợp với yêu cầu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thể chế kinh tế thị trường, thiết lập hành lang pháp lý đồng bộ cho quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bình đẳng, công khai, minh bạch trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, loại bỏ các rào cản trong tiếp cận các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên cho phát triển đất nước trong phát triển trước mắt và lâu dài.

Trình ban hành và ban hành theo thẩm quyền văn bản quy định chi tiết Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 để có hiệu lực đồng thời với Luật. Thiết lập hàng rào kỹ thuật quy chuẩn, tiêu chuẩn tiệm cận các nước tiên tiến trong khu vực, chủ động phòng ngừa các nguy cơ ô nhiễm trong tiến trình hội nhập; xây dựng các giải pháp chiến lược để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp với điều kiện của từng vùng.

Tập trung xây dựng các Quy hoạch quốc gia, các quy hoạch ngành quốc gia đồng bộ, phân bổ hợp lý, phát huy các nguồn lực tài nguyên trong tầm nhìn dài hạn, đảm bảo không gian sinh tồn, sinh thái và không gian phát triển, tăng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Xây dựng chiến lược phát triển các lĩnh vực tài nguyên môi trường đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để đảm bảo sự chủ động của Việt Nam trong giải quyết các thách thức.

Hai là, thực hiện chuyển đổi số toàn diện ngành; xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng số, dữ liệu số, thông tin phục vụ quản lý, điều hành thông minh trên nền tảng thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07 tháng 3 năm 2019 của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến 2025; xây dựng Chương trình chuyển đổi số tài nguyên và môi trường đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Chiến lược tổng thể tài nguyên số về tài nguyên và môi trường đến năm 2030, thực hiện Chương trình Chuyển đổi số trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Tập trung xây dựng đưa vào vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và lĩnh vực về tài nguyên và môi trường gồm cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia và các dữ liệu lớn như quan trắc tài nguyên và môi trường, khí tượng thủy văn, viễn thám, tài nguyên nước, biển và đại dương; Trung tâm dữ liệu và cơ sở dữ liệu liên ngành vùng ĐBSCL kết nối với tiểu vùng Mê Công… kết nối liên thông cung cấp dữ liệu số phục vụ quản lý, phát triển Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số để cơ bản chuyển đổi số ngành tài nguyên và môi trường vào năm 2025.

Từng bước thực hiện chuyển đổi số trong tất cả các lĩnh vực của ngành tài nguyên môi trường nhằm tăng hiệu quả hoạt động, năng suất lao động, đảm bảo vững chắc quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, sử dụng văn bản, giấy tờ, chứng từ điện tử, chứng thực chữ ký số trong công tác hành chính; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong các hệ thống thông tin, các dịch vụ, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin.

Thực hiện quản lý, chỉ đạo điều hành, tác nghiệp trên môi trường mạng dựa trên năng lực phân tích, xử lý dữ liệu lớn minh bạch, hiệu lực, thông minh và hiệu quả. Mở rộng, tăng dày mạng lưới trạm định vị vệ tinh (Cors) trên toàn lãnh thổ Việt Nam cung cấp dịch vụ định vị chính xác cho các hoạt động kinh tế, xã hội, quản lý lãnh thổ, triển khai các ứng dụng thông minh, xây dựng đô thị thông minh.

Nghiên cứu lập, quản lý quy hoạch theo không gian bao gồm cả không gian ngầm và trên không; đảm bảo thuận lợi trong tiếp cận thông tin quy hoạch của người dân. Xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát tài nguyên nước, môi trường, các hoạt động khai thác, sử dụng nước, quan trắc KTTV, giám sát biến đổi khí hậu. Nghiên cứu khai thác các nguồn năng lượng mới như địa nhiệt, khí đá phiến, khí hóa than, năng lượng biển,...

Triển khai ứng dụng công nghệ viễn thám trong công tác điều tra cơ bản về tài nguyên, phát triển nông nghiệp, quản lý, lập quy hoạch, giám sát nguồn nước xuyên biên giới, biến động diện tích đất rừng, biển, hải đảo, các khu vực có nguy cơ sạt lở, ô nhiễm môi trường.

Ba là, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới nghiên cứu khoa học, hợp tác hội nhập quốc tế sâu rộng.

Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy của Ngành tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả gắn với tinh giản biên chế trên cơ sở triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương; phấn đấu năm 2021 đạt tỷ lệ tinh giản biên chế so với năm 2015 là 10%; hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp ngành tài nguyên và môi trường đến năm 2030; tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chế độ tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ngành.

Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức gắn với việc thực hiện có hiệu quả Kế hoạch hành động số 444-KH/BCSĐTNMT ngày 14/11/2018 của Ban Cán sự đảng, Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; tập trung nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản lý, điều hành cho đội ngũ công chức, viên chức, người lao động nhằm xây dựng đội ngũ công chức, viên chức, người lao động chuyên sâu, chuyên nghiệp, có phẩm chất và bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và yêu cầu công tác trong tình hình mới; thực hiện có hiệu quả việc luân chuyển, sắp xếp, bố trí đội ngũ công chức, viên chức gắn với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy.

Hoàn thành mục tiêu cụ thể thuộc lĩnh vực tài nguyên và môi trường đã đề ra tại Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021: nâng xếp hạng chỉ số Đăng ký tài sản (A7) lên từ 10-15 bậc; nâng xếp hạng Chỉ số chất lượng quản lý hành chính đất đai (B3) lên từ 5-7 bậc.

Tích cực đẩy mạnh hoạt động cải cách thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh và ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính. Tập trung thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa ít nhất 20% số quy định và cắt giảm ít nhất 20% chi phí tuân thủ trong xây dựng, trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh giai đoạn 2020-2025.

Thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến, nhất là các dịch vụ công trực tuyến thiết yếu nâng cao Chỉ số đánh giá của Liên Hợp quốc về phát triển Chính phủ điện tử Việt Nam và tích hợp, cung cấp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia bao gồm: (i) Nhóm dịch vụ liên quan đến thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và cấp giấy phép liên quan đến môi trường; (ii) Cấp giấy chứng nhận và đăng ký biến động quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; (iii) Cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ, qua đó nâng cao mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Thực hiện mục tiêu cung cấp dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4 đối với 80% thủ tục hành chính của Bộ. Số hóa các báo cáo, chỉ tiêu thống kê được tích hợp, kết nối phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Bộ, ngành; kết nối, chia sẻ dữ liệu số trên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ phục vụ chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện đấu thầu đặt hàng trong nghiên cứu khoa học, đảm bảo hiệu quả thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đặt ra của ngành. Ứng dụng công nghệ thông tin, internet kết nối vạn vật trong quản lý tài nguyên và môi trường. Ứng dụng rộng rãi công nghệ xử lý chất thải rắn theo hình thức đốt rác phát điện, kết hợp thu hồi năng lượng, xây dựng nền kinh tế tuần hoàn. Đẩy mạnh phát triển công nghệ sinh học trong khôi phục, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái tự nhiên.

Chủ động hợp tác và hội nhập, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và vận động, thu hút, thực hiện và quản lý có hiệu quả nguồn hỗ trợ nước ngoài phục vụ cho công tác quản lý nhà nước của ngành. Tăng cường vai trò và tiếng nói của Việt Nam trong các khuôn khổ hợp tác quốc tế và trên diễn đàn quốc tế liên quan đến các lĩnh vực; thúc đẩy, mở rộng các diễn đàn đối thoại chính sách, tham vấn các nhà đầu tư, tài trợ, phục vụ trao đổi thông tin pháp luật về tài nguyên và môi trường.

Bốn là, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc từ thực tiễn.

Tăng cường sự phối hợp giữa Trung ương và địa phương trong thực thi và hoàn thiện chính sách pháp luật. Thiết lập hệ thống theo dõi đánh giá việc quản lý sử dụng tài nguyên; thực hiện đánh giá xếp hạng chỉ số bảo vệ môi trường cấp tỉnh.

Đổi mới công tác thanh tra, tổ chức lực lượng thanh tra theo vùng để nắm bắt và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật. Đa dạng hoá các kênh thông tin để tiếp nhận phản ánh kiến nghị. Tăng cường tính chủ động, kịp thời trong kiểm tra, khảo sát, xác minh, xử lý các vụ việc nóng, vấn đề môi trường phát sinh. Chuyển hoạt động thanh tra kiểm tra từ tiền kiểm sang hậu kiểm; tăng cường thanh tra đột xuất để giải quyết tình trạng nhũng nhiễu, hành dân gây bức xúc trong dư luận, các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Tập trung triển khai công tác thanh tra đối với dự án được giao đất nhưng chậm đưa vào sử dụng, đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường; tổ chức được giao đất, cho thuê đất có nguồn gốc đất công; việc bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng; việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với 17 loại hình sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường do địa phương phê duyệt ĐTM, các cơ sở chăn nuôi, các nguồn xả thải lớn; hoạt động khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường; việc quản lý, sử dụng các mỏ khoáng sản đã hết hạn khai thác theo giấy phép; việc xả nước thải vào nguồn nước. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở từng cấp; giải quyết các vụ việc khiếu kiện tồn đọng, kéo dài.

Bên cạnh nhóm các nhiệm vụ trọng tâm, Chương trình hành động của Ngành TN&MT thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP, NQ02/NQ-CP cũng nêu rõ các nhiệm vụ, giải pháp cho từng lĩnh vực quản lý chuyên ngành làm cơ sở triển khai hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2021.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan