Chủ nhật, 03/07/2022 - 06:57
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trả lời kiến nghị của cử tri và Nhân dân về vấn đề an ninh nguồn nước

          Theo kiến nghị của cử tri và Nhân dân gửi đến Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng vấn đề an ninh nguồn nước cần được đặc biệt quan tâm hơn.

 

          Về vấn đề cử tri nêu, Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời như sau:

Thực trạng vấn đề an ninh nguồn nước của Việt Nam hiện nay

Việt Nam có 3.450 sông, suối có chiều dài từ 10km trở lên nằm trong 108 lưu vực sông được phân bố và trải dài trên cả nước với tổng diện tích lưu vực khoảng 1.168.420 km2, trong đó 837.430 km2 (chiếm 71,7%) nằm ở nước ngoài, chỉ có 330.990 km2 (chiếm 28,3%) diện tích lưu vực nằm trong lãnh thổ nước ta. Nguồn nước mặt của nước ta chủ yếu phụ thuộc vào nước ngoài, 63% nguồn nước mặt xuất phát từ ngoài lãnh thổ, phân bố không đều theo không gian và thời gian (lượng nước trong các tháng mùa lũ chiếm tới 70-80% lượng nước cả năm). Nước ta là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, trong đó tài nguyên nước sẽ chịu những ảnh hưởng lớn nhất và sớm nhất do những diễn biến bất thường về lượng mưa và nước biển dâng, tập trung mạnh nhất ở hai khu vực sản xuất lúa gạo và sản phẩm thủy sản chủ yếu của cả nước là vùng Đồng bằng sông Cửa Long và đồng bằng sông Hồng. Hiện tượng này đã xuất hiện rõ trong những năm gần đây và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên nước, điển hình là hiện tượng hạn hán, thiếu nước trên các lưu vực sông. Bên cạnh đó, sự phát triển đô thị, công nghiệp ngày càng tăng trong khi tình trạng sử dụng nước lãng phí, kém hiệu quả vẫn còn phổ biến. Rừng đầu nguồn bị suy giảm, tình trạng phá rừng ở Việt Nam đã ở mức báo động gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn sinh thủy trên các lưu vực sông. Đồng thời, trong các năm gần đây, các quốc gia ở thượng nguồn đã và đang đẩy mạnh việc khai thác sử dụng nước trên các sông liên quốc gia, nhất là trên lưu vực sông Mê Công và lưu vực sông Hồng. Đặc biệt, hoạt động đắp đập, chặn dòng, xây dựng công trình thủy điện và vận hành của các nhà máy thủy điện ở thượng nguồn lưu vực sông Hồng, sông Mê Công đã và đang là nguy cơ trực tiếp làm suy giảm nguồn nước chảy vào Việt Nam, đe dọa an ninh nguồn nước của nước ta. Việc bảo đảm nguồn nước, cấp nước an toàn đang gặp nhiều thách thức lớn.

Tóm tắt kết quả thực hiện trong thời gian qua

Hệ thống văn bản pháp luật về tài nguyên nước đã tương đối hoàn thiện và đồng bộ. Chính phủ, Bộ đã ban hành 45 văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước (11 Nghị định của Chính phủ, 34 Thông tư của Bộ trưởng).

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 11 quy trình vận hành liên hồ chứa trên 11 lưu vực sông góp phần giảm lũ cho hạ du, cấp nước cho mùa cạn.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy của các cấp, các ngành trong xây dựng chính sách, xác định các chương trình chiến lược, các dự án cấp bách, theo đó phải lấy tài nguyên nước làm yếu tố cốt lõi, là cơ sở cho việc hoạch định chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển vùng, cần phải được quản lý tổng hợp trên toàn lưu vực.  

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong việc giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước cũng như tuân thủ các quy định của Giấy phép. Bộ đã ban hành chính sách về giám sát (Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT) góp phần bảo đảm nâng cao hiệu quả sử dụng nước, bảo vệ nguồn nước các lưu vực sông.

Chính sách quy định về dòng chảy tối thiểu được ban hành và triển khai đồng bộ, hiệu quả trên thực tế. Bảo đảm hạn chế tối đa việc tạo ra những đoạn sông khô cạn và giảm thiểu tác động đến hệ sinh thái thủy sinh và các hoạt động khai thác, sử dụng của người dân phía hạ lưu phụ thuộc vào nguồn nước trên các sông, suối có xây dựng hồ chứa.

Việc bảo vệ lưu thông dòng chảy, bảo vệ các nguồn nước, bảo vệ lòng bờ bãi sông thông qua các chính sách (Nghị định 43/2015/NĐ-CP, Nghị định 23/2020/NĐ-CP), đã phân cấp cho các địa phương và các chủ hồ chứa thực hiện. Chính sách này đã góp phần phòng, chống các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; lấn, chiếm đất ven nguồn nước; bảo vệ, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái thủy sinh, giá trị về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng liên quan đến nguồn nước là cấp thiết nhằm bảo vệ, duy trì nguồn nước.

Đối với các lưu vực sông liên quốc gia, Bộ đã tham vấn và kiến nghị với Lào về những vấn đề liên quan đến xây dựng các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công; Thực hiện Nghiên cứu đánh giá tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Công.

Giải pháp triển khai trong thời gian tới

Tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý tài nguyên nước, bao gồm cả việc thực thi pháp luật, tăng cường nguồn lực, tài chính để bảo đảm pháp luật được thực thi hiệu quả.

Tập trung xây dựng và phê duyệt quy hoạch về tài nguyên nước. Trong đó sẽ tập trung xây dựng các phương án điều hòa, phân bổ nguồn nước theo các kịch bản thừa nước, đủ nước, thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước và đặc biệt là trong điều kiện xảy ra hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng trên các vùng và phạm vi toàn quốc.

Hoàn chỉnh việc xây dựng hệ thống giám sát tài nguyên nước, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước; thanh tra, kiểm tra; tăng cường giám sát việc khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước thông qua hình thức giám sát tự động, trực tuyến.

Xây dựng hệ thống giám sát, dự báo cảnh báo sớm diễn biến tài nguyên nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long; hợp tác với Trung Quốc trong việc chia sẻ số liệu vận hành khai thác, sử dụng nước của các công trình phía thượng lưu.

Nghiên cứu đề xuất các phương án tăng cường khả năng trữ lũ, giữ nước ngọt với quy mô phù hợp với vùng nhằm tăng cường trữ nước, điều tiết nguồn nước để bảo đảm nâng cao hiệu quả khai thác nguồn nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả.

Thành lập và đưa vào hoạt động các Ủy ban lưu vực sông còn lại (hiện mới chỉ có Ủy ban sông Mê Công Việt Nam) để thực hiện có hiệu quả và nâng cao vai trò trong việc điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước.

Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các biện pháp sử dụng nước tiết kiệm hiệu quả đến tất cả các cấp, các ngành, các tổ chức cá nhân và cộng đồng dân cư

Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các Bộ, ngành các địa phương, với các tổ chức quốc tế trong thu thập, chia sẻ thông tin, số liệu về tình hình khai thác, sử dụng nước của các nước ở thượng nguồn sông xuyên biên giới.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Lượt bình luận

Trường đánh đấu (*) là bắt buộc.

Tin liên quan